Nhật ký

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nhật ký là loại văn xuôi ghi chép những sinh hoạt thường ngày. Trong văn học, nhật ký là hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất số ít, dưới dạng những ghi chép thường ngày có đánh số ngày tháng.

Nhật ký cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Nhật ký cá nhân thông thường được coi như một thể tài ngoài văn học hay cận văn học, là loại văn ghi chép của cá nhân trong đời sống hàng ngày. Do vậy, nhật ký thường chân thành và công nhiên trong phát ngôn; bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã diễn ra, đã nếm trải, đã thử nghiệm, và ít khi hồi cố[1]. Nhật ký được viết ra chỉ cho bản thân người ghi chứ không tính đến việc được công chúng tiếp nhận, và đây là điểm phân biệt nó với nhật ký văn học.

Nhật ký cá nhân thường nói về các sự kiện của đời tư với tính chất xác thực đặc biệt. Bên cạnh các sự kiện đời tư, nhật ký cũng nói lên những ý kiến nhận xét về cuộc đời, thường được rút ra từ các suy nghĩ về cuộc sống của bản thân người ghi.

Nhật ký là thể tài độc thoại, nhưng lời độc thoại của nhật ký có thể mang tính chất đối thoại bên trong, do tính đến ý kiến của người khác về cuộc đời và về bản thân người ghi nhật ký.

Nhật ký sự vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhật ký ghi chép vắn tắt tiến trình công việc, có thể kể đến loại nhật ký công tác (có nội dung khoa học) hay nhật ký sự vụ chuyên biệt (như hải trình, một dạng nhật ký hàng hải). Các thể loại nhật ký công việc này không được coi như là thể loại nhật ký văn học trừ một vài ngoại lệ.

Nhật ký văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Những đặc điểm của nhật ký cá nhân nói trên khiến cho nó được vận dụng trong văn học từ khá sớm[1]. Ở Tây Âu, thể tài nhật ký phát triển trong văn học cuối thế kỷ 18 khi có sự gia tăng chú ý đến thế giới nội tâm con người, khi xuất hiện nhu cầu tự bạch và tự quan sát, khi độc thoại nội tâm và thủ pháp dòng ý thức được chú trọng.

Nhật Bản ngay từ thời Heian thế kỷ thứ 8, nhật ký (nikki) thông thường của giới trí thức cung đình, ban đầu là các ghi chép việc công, đã ngày càng hướng đến là thể loại văn chương đích thực, khi nó gắn song song với việc miêu tả sự kiện là bình luận về sự kiện, sử dụng lối văn trang nhã. Tác phẩm nhật ký văn chương nổi tiếng đầu tiên của Nhật có thể kể đến là cuốn Tosa nikki (Thổ tá nhật ký)[2] do thi nhân và nhà phê bình thơ Ki no Tsurayuki (868?-945?) viết và cho ra đời năm 935, ghi chép hành trình 55 ngày đường của tác giả từ Tosa (nay thuộc tỉnh Kochi, phía nam Shikoku) tới kinh đô (nay thuộc Kyoto)

Nhật ký văn học vừa dung chứa đặc điểm cá biệt do thể loại nhật ký quy định, vừa bao hàm các đặc điểm chung của tác phẩm văn học.

Một số dấu hiệu thể tài nhật ký cũng được khai thác trong loại văn du ký hay kỷ hành. Thể tài nhật ký được một loạt các nhà văn sử dụng và không hiếm khi độc giả bắt gặp trong văn học thế giới những tác phẩm văn học hoàn toàn được viết dưới dạng nhật ký, như Lối lên miền Oku của Matsuo Basho, Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Bên cạnh đó một số tác phẩm có những phần nhất định dùng hình thức nhật ký, như Nhân vật của thời đại chúng ta của Lermontov, Chàng ngốc của Dostoevski v.v.

Một số nhật ký thông thường, nhật ký công tác hay nhật ký sự vụ của nhà văn hay một nhân vật lịch sử đặc biệt được công bố, phát hành đến công chúng sau khi họ mất, như Nhật ký Đặng Thùy Trâm, cũng có thể coi là một dạng nhật ký văn học, dù đặc trưng thể loại và hình thức của chúng không phải là một nhật ký văn học đích thực từ trong ý đồ dụng bút của người viết.

Tính chất nhật ký còn có ở cả một số sáng tác trữ tình, chính luận, thậm chí ở một số tác phẩm triết học.

Blog[sửa | sửa mã nguồn]

Blog cá nhân, trang thành viên Facebook cũng có thể coi là một dạng nhật ký điện tử, tuy rằng trong thực tế blog hay trang mạng xã hội đáp ứng đáp ứng vai trò đa dạng hơn với chức năng trang chủ cá nhân, kho lưu trữ thông tin, nhật ký, các mối quan hệ v.v.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Mục từ Nhật ký trên Từ điển văn học (bộ mới), NXB Thế giới, H. 2004. Trang 1257
  2. ^ Dòng văn học nhật ký và tùy bút, cái nhìn sắc bén về cuộc đời của những kẻ đứng bên lề

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân biên soạn, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, H. 2003, trang 253-254.
  • Mục từ Nhật ký trên Từ điển văn học (bộ mới), NXB Thế giới, H. 2004.