Nhục viên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhục viên ăn kèm với nước sốt ngọt.

Nhục viên hay Ba-wan (phồn thể: ; bính âm: roù yuán; Wade–Giles: jou4-yüan2; Bạch Thoại tự: bah-ôan; nghĩa đen "thịt viên") là một món ăn vặt của Đài Loan, nó là một chiếc bánh nhân mặn hình đĩa đường kính 6–8 cm với vỏ bánh trong mờ (tức có thể phần nào nhìn thấy nhân thịt bên trong) ăn kèm với nước sốt có vị ngọt và mặn. Vật liệu làm nhân bánh có thể thay đổi tùy theo địa phương ở Đài Loan, tuy nhiên thông thường nó được làm từ thịt lợn, măngnấm hương. Nhục viên làm theo kiểu của Chương Hóa được xem là "chuẩn" của các loại nhục viên và cũng là kiểu được biết đến rộng rãi nhất của loại bánh này.

Cái tên "ba-wan" là cách chuyển tự La Tinh không theo chuẩn của cách phát âm của Đài Loan về chữ "nhục viên" (肉圓) hay "nhục hoàn" (, bính âm của tiếng Phổ thông, roù wán; cũng mang nghĩa là "thịt viên"). Ở trấn Lộc Cảng, Chương Hóa, nhục viên được phát âm là "bah-hôe", tức "nhục hồi" (; roù huí;) vì hình dạng của chúng giống như chữ "hồi" (回).

Bột làm vỏ bánh được làm từ tinh bột ngô, tinh bột khoai langbột gạo; điều này khiến vỏ bánh trở nên dẻo, dính, trông hơi nhầy nhầy và có sắc trong mờ hơi xám. Ban đầu nhục viên được nấu bằng cách hấp, tuy nhiên chúng cũng có thể được rán trong tình trạng ngập trong dầu để tạo cho chúng một lớp bề mặt hoặc rim trong dầu để hâm nóng chúng mà không làm bánh bị khô.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nhục viên được tin rằng xuất hiện lần đầu tiên tại Bắc Đẩu trấn, Chương Hóa, Đài Loan và người sáng tạo ra nó là Phạm Vạn Cư (, Fàn Wànjū). Phạm sáng chế ra loại bánh này như là một giải pháp tình thế cho nạn khan hiếm lương thực ở Bắc Đầu sau khi vùng này vừa hứng chịu một trận lũ lụt lớn. Từ đó, món bánh nhục viên đã được truyền khắp Đài Loan và được người xứ Đài xem là món ăn đại diện cho đất nước.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • 林明德, 2002, 彰化縣飲食文化, 彰化市:彰化縣文化局

Bản mẫu:Taiwanese cuisine Bản mẫu:Dumplings