Những người khốn khổ (phim 2012)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Les Misérables
The poster shows a young girl, played by Isabelle Allen, in the background of a dark night. Text above reveals the cast listing and text below reveals the film's title.
Áp phích thiết kế bởi Ignition Print[1]
Thông tin phim
Đạo diễn Tom Hooper
Sản xuất Tim Bevan
Eric Fellner
Debra Hayward
Cameron Mackintosh
Kịch bản William Nicholson
Alain Boublil
Claude-Michel Schönberg
Herbert Kretzmer
Dựa trên Les Misérables (nhạc kịch) của
Alain Boublil
Claude-Michel Schönberg
Les Misérables (tiểu thuyết) của
Victor Hugo
Diễn viên Hugh Jackman
Russell Crowe
Anne Hathaway
Amanda Seyfried
Eddie Redmayne
Helena Bonham Carter
Sacha Baron Cohen
Âm nhạc Claude-Michel Schönberg
Quay phim Danny Cohen
Dựng phim Melanie Ann Oliver
Chris Dickens
Hãng sản xuất Working Title Films
Cameron Mackintosh Ltd.[2]
Relativity Media[2]
Phát hành Universal Pictures
Công chiếu 5 tháng 12, 2012 (2012-12-05) (Công chiếu tại Luân Đôn)
11 tháng 1, 2013 (2013-01-11) (Vương quốc Anh)
Độ dài 158 phút[3]
Quốc gia Vương quốc Anh[4][5]
Ngôn ngữ Tiếng Anh
và tiếng Pháp
Kinh phí 61 triệu đô la Mỹ[6][7]
Doanh thu 441,809,770 đô la Mỹ[7]

Những người khốn khổ (tựa gốc tiếng Pháp: Les Misérables) là một bộ phim nhạc kịch, sử thi, lãng mạn năm 2012 của nước Anh được sản xuất bởi Working Title Films và do công ty con Universal Pictures phân phối. Bộ phim được Tom Hooper - vị đạo diễn từng nhận giải Oscar cho The King's Speech chỉ đạo nghệ thuật dựa trên tác phẩm văn học kinh điển của đại văn hào người Pháp Victor Hugo cùng với vở nhạc kịch cùng tên của hai nhạc sĩ Alain BoublilClaude -Michel Schönberg. Les Misérables quy tụ dàn diễn viên xuất sắc và nổi tiếng của Hollywood tham gia, trong đó có Hugh Jackman, Russell Crowe, Anne Hathaway, Amanda Seyfried và đây cũng chính là bộ phim nhạc kịch đột phá nhất trong lịch sử điện ảnh vì đã lột tả được hết những giá trị kinh điển trong bức tranh xã hội Pháp đầy rắc rối lúc bấy giờ.

Lấy bối cảnh nước Pháp hơn hai thập kỷ đầu thế kỷ 19 kể từ khi Napoleon I lên ngôi, Les Misérables kể về một câu chuyện cảm động của những giấc mơ tan vỡ, của tình yêu không được đáp trả, niềm đam mê, sự hy sinh và chuộc tội. Bộ phim là một minh chứng trường tồn theo năm tháng kể lại hành trình tồn tại của tinh thần con người. Nhân vật chính trong tác phẩm là Jean Valjean (Giăng Van-Giăng) - một cựu tù nhân khổ sai đang cố chuộc lại lỗi lầm trong quá khứ để khẳng định bản chất lương thiện cuối cùng trở thành thị trưởng của một thị trấn ở Pháp và cũng là chủ sở hữu một nhà máy may ở thành phố đó. Tuy nhiên, Giăng Van-Giăng luôn phải trốn chạy sự săn đuổi của Javert (Gia-ve) - tay thanh tra tàn nhẫn luôn lấy luật pháp làm kim chỉ nam trong cuộc đời để thi hành công lý. Một trong những công nhân trong nhà máy - nàng Fantine (Phăng-tin), đã đổ lỗi cho Giăng Van-Giăng cũng chỉ vì anh mà cô đã lún sâu vào con đường mại dâm để kiếm tiền nuôi con. Khi Phăng-tin chết vì bệnh lao phổi, Giăng Van-Giăng cảm thấy mình phải có trách nhiệm cưu mang cô con gái ngoài giá thú của nàng - Cosette (Cô-dét), mặc dù anh vẫn đang sống lén lút để thoát khỏi sự truy lùng gắt gao của Gia-ve. Năm tháng dần trôi, khi Cô-dét đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp thì cũng là lúc đất nước Pháp đang lâm vào cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc, đỉnh điểm cao trào là cuộc nổi dậy của những nhân dân cần lao thuộc đảng cộng hòa ở Paris năm 1832.

Les Misérables dựa trên vở nhạc kịch sân khấu bắt đầu vào cuối những năm 1980. Sau buổi hòa nhạc kỷ niệm lần thứ 25 kể từ khi ra mắt vở nhạc kịch này trong tháng 10 năm 2010, Cameron Mackintosh - nhà sản xuất của bộ phim Nhớ Sài GònBóng ma trong nhà hát cho biết rằng bộ phim tiếp tục đang trên đà tiến triển. Đạo diễn Hooper và nhà văn Nicholson tiếp nhận dự án trong tháng 3 năm 2011 và các nhân vật chính đã được lựa chọn vào năm 2011. Việc bấm máy khởi quay bắt đầu vào tháng 3 năm 2012,[8] diễn ra tại rất nhiều địa điểm khác nhau ở Vương quốc Anh, trong đó có Greenwich, Luân Đôn, Chatham, Winchester và Portsmouth cũng như tại xã Gourdon miền đông nam nước Pháp.

Les Misérables được công chiếu lần đầu tiên tại Luân Đôn vào ngày 5 tháng 12 năm 2012 và ra mắt ngày 25 tháng 12 năm 2012 tại Hoa Kỳ, 26 tháng 12 năm 2012 tại Úc, 11 tháng 1 năm 2013 tại Vương quốc Anh cũng như vào ngày 11 tháng 1 trong cùng năm tại Việt Nam.[9][7][10][11]

Bộ phim nhận được nhiều lời bình luận khác nhau, nhưng phần lớn đều là những đánh giá tích cực,[12] nhiều nhà phê bình khen ngợi các diễn viên Jackman, Hathaway, Redmayne và Barks về trình độ và khả năng nhập vai xuất sắc của họ, tạp chí Time đã phải thốt lên rằng "đây là một bộ phim nhạc kịch kiểu mới" vì toàn bộ dàn diễn viên được yêu cầu phải hát trực tiếp trong quá trình quay, micro giấu trong trang phục và phần đệm của dàn nhạc lên tới 70 người chỉ được thêm vào bộ phim sau khi đã quay xong.[13] Les Misérables đồng thời cũng giành được rất nhiều giải thưởng điện ảnh lớn nhỏ khác nhau, trong đó có ba giải quả cầu vàng ở hạng mục Phim ca nhạc hoặc phim hài hay nhất, Nam diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất cho Jackman và Nữ diễn viên điện ảnh phụ xuất sắc nhất dành cho Hathaway, bốn giải BAFTA trong đó Hathaway giành được một giải ở hạng mục Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất. Bên cạnh đó, phim còn nhận được tám đề cử giải Oscar trong đó được đề cử hạng mục Phim xuất sắc nhất (vở nhạc kịch đầu tiên được đề cử kể từ khi Chicago chiến thắng cùng hạng mục vào năm 2002), Nam diễn viên chính xuất sắc nhất cho Jackman và giành được ba giải là Âm thanh hay nhất, Hóa trang xuất sắc nhấtNữ diễn viên phụ xuất sắc nhất dành cho Hathaway.[14]

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Câu chuyện về Jean Valjean, người cựu tù khổ sai, người đang cố gắng sống vì một xã hội tốt đẹp nhưng lại không thể thoát khỏi quá khứ của mình. Sau 19 năm ngồi tù với số tù 24601 vì ăn cắp một mẩu bánh mì cho con của người chị gái, người nông dân Jean Valjean được thả. Tuy nhiên anh phải mang theo giấy thông hành vàng, dấu hiệu cho thấy người mang nó từng phạm tội, vì vậy Jean bị chủ quán trọ từ chối và buộc phải ngủ ngoài đường. May cho anh là giám mục Myriel, một người nổi tiếng hay làm từ thiện đã cho Jean Valjean một chỗ nương náu. Khi mọi người đã ngủ, Jean lại ăn cắp mấy thứ đồ bạc của giám mục và chạy trốn, anh bị bắt lại sau đó nhưng lại được ông Myriel cứu thoát khi nói với cảnh sát rằng đó là đồ ông tặng cho Valjean. Khi chia tay vị giám mục già nói với Jean Valjean rằng anh nhất định phải trở thành một người lương thiện và làm nhiều việc tốt cho mọi người.

8 năm sau Valjean, nay mang tên ông Madeleine, đã trở thành một chủ xưởng giàu có và là thị trưởng thành phố nhỏ nơi ông sinh sống, Valjean phải mang tên giả để tránh sự phát hiện của thanh tra Javert vẫn đang truy tìm ông ráo riết. Trong xưởng của ông có rất nhiều công nhân, trong đó có Fantine. Cô thường xuyên bị người quảng đốc dòm ngó, trong một lần trêu đùa, ngường người công nhân khác tình cờ đọc một lá thư của cô, cô bị quy tội là một cô gái lẳng lơ khi không chồng mà có con, vì lý do vô lý này mà tên quảng đốc đã duổi cô ra khỏi xưởng làm việc. Lại nói về Jean, số phận buộc Valjean phải để lộ danh tính của mình khi một người đàn ông khác bị nhầm là Jean Valjean và bị bắt đưa ra tòa. Cùng lúc này, Valjean gặp lại Fantine, đang hấp hối vì bệnh lao sau khi bị đuổi việc khỏi công xưởng của ông và buộc phải làm nghề mại dâm để có tiền nuôi con gái Cosette, em đang phải sống với gia đình nhà Thénardier độc ác. Trước khi Fantine chết, Valjean hứa với cô sẽ chăm sóc Cosette cẩn thận, ông trả tiền cho lão chủ quán trọ Thénardier để giải phóng cho Cosette và cùng em chạy trốn lên Paris khỏi sự truy đuổi của Javert. Ở Paris, hai người trú trong một nhà tu kín mà Javert không được quyền khám xét, vì vậy họ tạm thoát khỏi sự truy lùng gắt gao của viên thanh tra.

9 năm sau, sau cái chết của tướng Lamarque, người duy nhất trong giới lãnh đạo Pháp có cảm tình với giai cấp lao động, nhóm sinh viên đứng đầu là Enjolras tức giận với chế độ đã chuẩn bị cho một cuộc cách mạng vào đêm ngày mùng 5, rạng sáng mùng 6 tháng 6 năm 1832. Cuộc cách mạng cũng có sự tham gia của những người nghèo khổ, trong đó có cậu bé lang thang Gavroche. Một trong những người tham gia cách mạng là Marius Pontmercy, một sinh viên bị gia đình xa lánh vì quan điểm tự do của mình, anh đã đem lòng yêu Cosette, bây giờ đã trở thành một thiếu nữ hết sức xinh đẹp. Gia đình nhà Thénardier cũng đã chuyển tới Paris, trở thành những kẻ lang thang trộm cắp, sau khi thỏa thuận với Javert về việc giao nộp Vanjean cho hắn, bọn họ đã tìm cách đột nhập nhà của Valjean trong khi Marius đang đến thăm Cosette. Tuy nhiên con gái của Thénardier là Éponine cũng đã đem lòng yêu người sinh viên và cô đã thuyết phục bọn chúng rời khỏi đó.

Ngày hôm sau cuộc cách mạng nổ ra, những sinh viên bắt đầu dựng chiến lũy trên những con phố hẹp ở Paris. Javert đã trà trộn vào hàng ngũ sinh viên nhưng bị Gavroche phát hiện và Enjolras đã bắt giữ hắn. Khi biết người yêu của Cosette cũng tham gia nổi dậy, Valjean đã gia nhập với họ, bởi vì ông muốn bảo vệ Marius. Éponine cũng đứng vào hàng ngũ khởi nghĩa để bảo vệ Marius và cô đã chết hạnh phúc trên tay Marius sau khi hứng một viên đạn thay anh. Trong trận chiến tiếp theo, Valjean cứu sống Javert khỏi tay những người sinh viên và để viên thanh tra đi. Ông cũng cứu được Marius khi đó đã bị thương, nhưng tất cả những người khác, kể cả Enjolras và Gavroche đều đã bị giết. Valjean vác theo Marius chạy trốn theo những đường cống ngầm ở Paris, khi ra đến miệng cống ông chạm trán Javert, ông cố gắng thuyết phục Javert cho mình thời gian để trả Marius về gia đình của anh. Javert đồng ý đề nghị của Jean và nhận ra rằng ông ta đang bị kẹt giữa niềm tin vào luật pháp và niềm tin vào lòng tốt của con người mà Valjean đã cho viên thanh tra thấy, Javert cũng hiểu rằng ông không bao giờ có thể nộp Valjean cho chính quyền được nữa. Không thể chịu đựng nổi tình trạng khó xử này, Javert nhảy xuống sông Seine tự vẫn.

Marius và Cosette cưới nhau. Trước lễ cưới, Valjean đã kể hết cho Marius về quá khứ của mình. Ông quyết định bỏ đi mà không hề cho Cosette hay biết. Trong lễ cưới, vợ chồng Thénardier cải trang và trà trộn thành những người quý tộc để trộm cắp. Tuy nhiên, bọn chúng bị Marius phát hiện và yêu cầu rời khỏi lễ cưới. Gia đình Thénardier vô tình tiết lộ về việc Valjean đang sống trong một thánh đường và yêu cầu Marius phải cho chúng một khoản tiền nếu muốn việc này không đến tai cảnh sát. Họ nhanh chóng chạy thật nhanh dến nhà thờ nơi Valjean sống, lúc này ông đang hấp hối, Marius lúc này mới nhận ra được lòng tốt của ông và ông chính là người dã cứu sống anh trong thời khắc trên chiến trường. Ông rất hạnh phúc khi ở bên là đứa con gái nuôi yêu quý và con rể. Ông nói với họ rằng ông rất yêu quý họ và đưa cho Cosette một lá thư và đặn rằng lá thư này kể về cuộc đời của ông trước khi nhận nuôi cô và cô chỉ được mở ra khi ông nhắm mắt. Bổng ông nghe thấy tiếng hát vang vọng của Fantine, cô đang đến để đưa ông về với chúa, sau đó Valjean qua đời.

Bộ phim kết thúc bằng hình ảnh hết sức hào hùng của tất cả những người đã ngã xuống trong toàn bộ câu chuyện. Tất cả họ cùng hát với một ý chí quyết tâm trên một bức tường thành vĩ đại dựng lên bằng tất cà vật dụng trong gia đình. Họ nhìn về phía trước, lá cờ đỏ phấp phới đầy niềm tự hào.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Dàn diễn viên chủ yếu của Les Misérables trong các tấm áp phích quảng cáo của bộ phim. (Từ trên xuống, trái sang phải là Hugh Jackman, Russell Crowe, Anne Hathaway, Amanda Seyfried và Eddie Redmayne, Samantha Barks, Sacha Baron Cohen và Helena Bonham Carter). Tấp áp phích của bộ phim là cô bé Isabelle Allen vào vai Cô-dét lúc nhỏ.
  • Hugh Jackman - nam diễn viên từng giành giải Tony (giải thưởng cao quý nhất trong bộ môn nhạc kịch, tương đương với giải Oscar của điện ảnh) cho vở The Boy from Oz vào vai Giăng Van-Giăng (hay còn gọi là bác Mađơlen) - một anh thanh niên được thả ra tù từ tỉnh Toulon sau 19 năm song sắt chỉ vì ăn cắp một miếng bánh mì nhỏ đem về cho các con của chị gái góa chồng đang chết đói và việc thất bại nhiều lần trong nỗ lực tìm cách trốn tù.[15] Vào khoảng tháng 6 năm 2011, Jackman gặp gỡ nhà sản xuất Cameron Mackintosh thử giọng cho vai diễn tại thành phố New York.[16] Vì muốn nhập vai một cách xuất sắc nhất, Jackman sụt mất 15 pound để trở nên hốc hác và tiều tụy cho phân cảnh sau khi trở về từ nhà tù rồi sau đó tiếp tục tăng lên 30 pound cho phân cảnh sau này trở thành một thị trưởng trong một thị trấn nhỏ ở Pháp.[16] Anh tránh việc uống cà phê, ngậm kẹo Ricola thông cổ, mỗi ngày phải giữ ấm cho cơ thể ít nhất 15 phút, uống bảy lít nước trên tiêu chí càng nhiều càng tốt, tắm hơi ba lần một ngày, tắm nước lạnh và sử dụng một chiếc khăn ướt đắp lên khuôn mặt của mình trong khi ngủ, đạo diễn Trevor Nunn đảm nhiệm phần nhạc kịch cho bộ phim đã huấn luyện Jackman cho vai diễn này[17] và nhạc sĩ Joan Lader giúp Jackman mở rộng khả năng thanh nhạc của anh, Joan Lader cho biết rằng Jackman sở hữu tông giọng Baritone (giọng nam trung) khỏe khoắn, có thể lên đến Tenor (giọng nam cao).[18]
  • Russell Crowe - nam diễn viên nổi tiếng từng giành giải Oscar vào vai Gia-ve - viên thanh tra cảnh sát thiên về lý tính và có một cách nhìn nhận thế giới quan này rất khắt khe, rõ ràng và đầy cực đoan, Gia-ve luôn bị ám ảnh bởi việc cho dù có phải bỏ cả cuộc đời cũng phải bắt cho bằng được Giăng Van-Giăng.[15] Ban đầu Crowe không hài lòng về nhân vật phản diện này trước khi anh được chọn vào vai Gia-ve. Mãi đến khi trên đường tới Châu Âu tham dự đám cưới một người bạn cũ, Crowe đến Luân Đôn để gặp gỡ nhà sản xuất Cameron Mackintosh. Trong cuộc họp với Tom Hooper, anh nói với đạo diễn về mối quan tâm đặc biệt của mình dành cho nhân vật Gia-ve, sau cuộc gặp, Crowe cho biết: "Tôi sẽ xuất hiện trong dự án bộ phim với vai nhà thanh tra Gia-ve. Tôi nghĩ rằng nhân vật này chất chứa một điều gì đó trong niềm đam mê của Tom, cậu ấy hiểu rõ hơn ai hết về những gì mình phải làm, những vấn đề và thách thức phía trước."[19] Vào hôm thăm viếng ngôi nhà của đại văn hào Victor HugoParis, Crowe nói: "(Người phụ trách của nhà) nói với tôi về Vidocq (thám tử Eugene Francois của thế kỷ 19), một người đàn ông vừa là một tù nhân bị khổ đày trong quá khứ và cũng là một viên cảnh sát xuất sắc, người đã có công trong việc phát minh ra công việc cảnh sát ngầm khi ông thành lập lữ đoàn Surete." [16]
  • Anne Hathaway - nữ diễn viên xinh đẹp sau này giành được giải Oscar cho chính vai diễn của mình - nàng Phăng-tin còn Amanda Seyfried vào vai Cô-dét (trưởng thành).[20][21][22] Phăng-tin là một công nhân trong nhà máy của Giăng Van-Giăng bị gã đốc công đuổi việc một cách vô lý. Cô phải hành nghề mại dâm, bán răng, bán tóc để có tiền nuôi cô con gái hoang - Cô-dét. Cô bé sống và phải làm việc quần quật suốt ngày như một đứa hầu ở nhà trọ của mụ Tê-nác-đi-ê mãi cho đến khi Van-Giăng đến và chuộc cô bé từ tay mụ.

Trong buổi thử vai, Hathaway mất gần ba tiếng trò chuyện với đạo diễn Hooper và sau đó là một tháng trời đằng đẵng mong ngóng để được là một phần trong câu chuyện lịch sử của Hugo trên màn ảnh rộng. Cuối cùng, khi Hathaway chính thức được chọn, cô nói: "Việc tôi được nhận vai có sự đối kháng ở đây vì tôi đang trong độ tuổi lý tưởng của họ cho vai diễn, mặc dù có thể không đủ trưởng thành để nhập vai Phăng-tin nhưng tôi vẫn có thể tự tin để vào vai Cô-dét."[16] Còn khi được hỏi về nhân vật của mình, Seyfried cho biết: "Cô-dét là nguồn sáng, là biểu tượng của tình yêu, sự hy vọng trong thảm kịch này. Vì vậy nhiệm vụ của tôi là phải khắc họa được một cô bé với cuộc đời đầy bất hạnh nhưng luôn có nghị lực và niềm tin phi thường vào cuộc sống trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể. Đó quả là một vai diễn tuyệt vời dành cho tôi."[23] Một huấn luyện viên có nhiệm vụ giúp đỡ hai nữ diễn viên cải thiện khả năng thanh nhạc khi hát trực tiếp trước máy quay.[24] Vai diễn Cô-dét lúc còn là một đứa trẻ do cô bé Isabelle Allen đảm nhận.[25] Tài năng diễn xuất của Isabelle Allen được chuyên gia Jeremy Taylor (làm việc tại Nhà hát Quốc gia âm nhạc thanh niên - một tổ chức nghệ thuật ở Luân Đôn nước Anh) phát hiện sau khi ông theo dõi cô bé hóa thân thành một cậu bé què trong một vở kịch nhỏ ở trường học. Sau đó, ông Jeremy Taylor đã động viên và hỗ trợ cha mẹ Isabelle Allen đưa cô bé đi thử vai cho bộ phim. Chia sẻ về khoảnh khắc biết mình được nhận vai, Isabelle Allen cho biết: "Khi cháu biết mình được chọn, cháu rất vui mừng. Cháu cứ nhảy lên nhảy xuống trên giường. Nhưng rồi cháu cũng hơi sợ và lo lắng, bởi vì cháu không biết sẽ phải làm những gì" và trong ngày bấm máy quay làm việc với đoàn diễn viên kì cựu nhất nhì của Hollywood, Allen tâm sự: "Tất cả những người nổi tiếng đều rất tốt bụng, luôn giúp đỡ để cháu cảm thấy thoải mái nhất. Chú Russell Crowe thân thiện nhưng cũng rất nghiêm khắc, chị Amanda Seyfried lúc nào cũng động viên cháu..."[26][27]

  • Eddie Redmayne vào vai Ma-ri-uýtx - một anh chàng sinh viên quý tộc theo cách mạng chịu sống một cuộc đời nghèo khổ, anh là người bạn thân với cô con gái của mụ Tê-nác-đi-ê - Ê-pô-nin nhưng lại đem lòng thương mến nàng Cô-dét.[28][29][30] Redmayne nhận thấy tầm nhìn diễn viên của đạo diễn Hooper "vô cùng hữu ích". Trong quá trình hợp tác với Hooper, Redmayne cho biết: "Anh ấy (Hooper) là người vô cùng có tính hợp tác. Chắc chắn trong quá trình diễn tập, chúng tôi ngồi với Tom và cuốn sách của Victor Hugo sẽ được bổ sung vài thứ."[31] Redmayne đề nghị đạo diễn Hooper rằng bài hát mà anh sẽ thể hiện - "Empty Chairs at Empty Tables" nên bắt đầu bằng một đoạn hát mộc (không hỗ trợ nhạc nền) để khung cảnh trông cô đơn buồn tẻ và tạo nên khao khát để thể hiện nhân vật Ma-ri-uýtx tốt hơn.
  • Sacha Baron CohenHelena Bonham Carter - nữ diễn viên nổi tiếng với những bộ phim đạt doanh thu cao nhất nhì hàng năm từng được đề cử giải Oscar hai lần, họ vào vai hai vợ chồng nhà Tê-nác-đi-ê - một gia đình chủ quán trọ độc ác chuyên gia chơi trò móc túi lừa đảo hành khách, nơi Cô-dét sống khi còn nhỏ.[32][33][34] Đạo diễn Tom Hooper trước đây đã từng cộng tác với Bonham Carter trong The King's Speech - bộ phim cô đóng vai Nữ hoàng Elizabeth vợ vua George đệ lục.[35] Bên cạnh đó, Baron Cohen và Bonham Carter trước đó cũng từng đóng vai chính trong bộ phim chuyển thể từ vở nhạc kịch cùng tên ăn khách - Sweeney Todd: Con Quỷ Cắt Tóc Ở Đường Fleet. Khi nam diễn viên Baron Cohen chấp nhận vào vai nhân vật phản diện Tê-nác-đi-ê, anh phải từ bỏ một vai diễn trong bộ phim Django Unchained.[36]
  • Samantha Barks vào vai Ê-pô-nin - cô con gái duy nhất của hai vợ chồng nhà Tê-nác-đi-ê.[37] Cô yêu say đắm anh chàng Ma-ri-uýtx nhưng anh lại chẳng biết gì về tấm lòng của cô dành cho anh. Trong cuộc nổi dậy của những nhân dân cần lao thuộc đảng cộng hòa ở Paris vào năm 1832, cô bị bắn chết trước khi chuyển một bức thư từ Cô-dét cho Ma-ri-uýtx. Trong vở nhạc kịch, Ê-pô-nin là người đã đưa Giăng Van-Giăng lên thiên đường nhưng trong tác phẩm thì chính nàng Phăng-tin đảm nhận việc này. Trong số dàn diễn viên, chỉ có duy nhất Samantha Barks là diễn viên nhạc kịch thực thụ và từng đảm nhiệm chính vai Ê-pô-nin trong vở nhạc kịch Les Misérables tại buổi hòa nhạc kỷ niệm lần thứ 25 ở nhà hát West End, Barks cho biết: "có điểm tương đồng trong khi đảm nhiệm vai diễn này - mặc dù họ đều cùng là một nhân vật - nhưng Ê-pô-nin trong tiểu thuyết và Ê-pô-nin trong vở nhạc kịch là nhân vật có những nét tính cách khác nhau, do đó thực sự rất hồi hộp vì tôi cảm thấy mình phải sát nhập cả hai dạng của Ê-pô-nin này lại với nhau mà vẫn giữ vững giá trị của trái tim và tâm hồn - nơi chúng ta có thể kết nối với nhau để đến với âm nhạc, và cũng vì tính vụng về, sự ghê tởm của thanh thiếu niên mà chúng ta vẫn thường thấy trong các cuốn tiểu thuyết, cố gắng kết hợp cả hai lại với nhau." Cô tìm thấy trong Jackman "có sự hấp dẫn để học hỏi, và tôi cảm thấy đó như là cách mà tôi nên hoàn thành."[38]
  • Aaron Tveit đảm nhận vai Ăng-giô-rát - lãnh đạo của nhóm Les Amis de l'ABC (Những người bạn của ABC). Với niềm hy vọng được đóng vai Ma-ri-uýtx, Tveit đã gửi một đoạn băng thử giọng trong đó anh hát hai bài "Empty Chairs at Empty Tables" và "In My Life". Trước đây, anh chưa bao giờ xem vở nhạc kịch cho đến khi các nhà làm phim tiếp cận anh về dự án này. Anh cũng cho biết: "Một khi tôi càng ngày càng thông suốt kịch bản và đến khi đọc xong cuốn tiểu thuyết, tôi đã như "Wow đây thực sự, thực sự là một vai diễn tuyệt vời", và tôi dần cảm thấy Ăng-giô-rát là một vai diễn phù hợp với mình." Tveit cho biết thêm trong quá trình quay phim, anh "gần như muốn rã rời chân tay, nó như một cuộc chạy đua nước rút".[39]
  • Colm WilkinsonFrances Ruffelle - hai trong số diễn viên ban đầu tham gia diễn xuất trên sân khấu Broadway và nhà hát West End phiên bản tiếng Anh của vở diễn Les Misérables (lần lượt trong vai Giăng Van-Giăng và Ê-pô-nin) cũng xuất hiện trong bộ phim. Wilkinson đóng vai giám mục My-ri-en trong khi Ruffelle vào vai một cô gái điếm.[40] Hadley Fraser - ngôi sao nổi tiếng của nhà hát West End, trước đó đã từng vào vai Grăngte (Grantaire) (một thành viên trong nhóm Les Amis de l'ABC) trong buổi hòa nhạc kỷ niệm lần thứ 25 và vai Van-Giăng tại nhà hát West End cũng tham gia vào bộ phim với vai Tổng chỉ huy quân đội, đây là lực lượng đã phá tan cuộc nổi dậy của những nhân dân thuộc đảng cộng hòa ở Paris vào năm 1832. Một ngôi sao khác của West End là Gina Beck xuất hiện trong phim với vai trò khách mời, cô là một trong tám người phụ nữ hát bài "Turning Women" - phân cảnh nàng Phăng-tin (Hathaway) vào một khu ổ chuột (khu vực hành nghề của những cô gái ngủ hoang) để bán tóc, bán răng kiếm tiền nuôi đứa con gái. Nam diễn viên Michael Jibson đóng vai người quản đốc của nhà máy - nơi Phăng-tin làm việc rồi sau đó bị người quản đốc này sa thải vô lý.[41]
  • Một số nam diễn viên khác trong đoàn phim sản xuất của nhà hát West End cũng xuất hiện trong vai các thành viên của hội sinh viên (hội Les Amis de l'ABC), trong đó nam diễn viên George Blagden vào vai Grăngte (Grantaire);[42] Killian Donnelly vai Công-bơ-phe (Combeferre); Fra Fee vai Cuốc-phê-rắc (Courfeyrac); Alistair Brammer vai Giăng Pruve (Jean Prouvaire); Hugh Skinner vai Giôli (Joly),[43] Gabriel Vick vai Feuilly;[44] Iwan Lewis vai Bahôren (Bahorel) và Stuart Neal vai Leglơ (Lesgles). George Blagden được chọn vào vai diễn trong tháng 1 năm 2012.[45] Một số diễn viên sân khấu khác như Hannah Waddingham, Daniel EvansKerry Ellis cũng có một vai diễn nhỏ trong bộ phim.[34][46]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sự tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đề cử và giải thưởng
Giải thưởng Ngày trao giải Hạng mục Đề cử cho Kết quả Nguồn
Giải Oscar 24 tháng 2 năm 2013 Phim xuất sắc nhất Tim Bevan, Eric Fellner, Debra HaywardCameron Mackintosh Đề cử [47]
Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Hugh Jackman Đề cử
Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Anne Hathaway Đoạt giải
Ca khúc trong phim hay nhất "Suddenly" (sản xuất bởi Claude-Michel Schönberg, lời của Herbert KretzmerAlain Boublil) Đề cử
Thiết kế trang phục xuất sắc nhất Paco Delgado Đề cử
Hóa trang xuất sắc nhất Lisa Westcott và Julie Dartnell Đoạt giải
Âm thanh hay nhất Andy Nelson, Mark Paterson và Simon Hayes Đoạt giải
Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất Eve Stewart và Anna Lynch-Robinson Đề cử
Viện phim Mỹ 11 tháng 1 năm 2013 Phim của năm Đoạt giải [48]
Giải thưởng phim quốc tế AACTA 28 tháng 1 năm 2013 Phim xuất sắc nhất Tim Bevan, Eric Fellner, Debra HaywardCameron Mackintosh Đề cử [49]
Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Hugh Jackman Đề cử
Giải BAFTA 10 tháng 2 năm 2013 Phim xuất sắc nhất Đề cử [50]
Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Hugh Jackman Đề cử
Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Anne Hathaway Đoạt giải
Thuật quay phim xuất sắc nhất Danny Cohen Đề cử
Thiết kế trang phục xuất sắc nhất Paco Delgado Đề cử
Hóa trang xuất sắc nhất Lisa Westcott Đoạt giải
Âm thanh xuất sắc nhất Simon Hayes, Andy Nelson, Mark Paterson, Jonathan Allen, Lee Walpole và John Warhurst Đoạt giải
Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất Eve Stewart và Anna Lynch-Robinson Đoạt giải
Giải thưởng sự lựa chọn của các nhà phê bình 10 tháng năm 2013 Phim xuất sắc nhất Đề cử [51]
Dàn diễn viên diễn xuất tốt nhất Dàn diễn viên của Les Misérables Đề cử
Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Hugh Jackman Đề cử
Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Anne Hathaway Đoạt giải
Đạo diễn xuất sắc nhất Tom Hooper Đề cử
Ca khúc trong phim hay nhất "Suddenly" Đề cử
Thuật chiếu phim xuất sắc nhất Danny Cohen Đề cử
Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất Eve Stewart và Anna Lynch-Robinson Đề cử
Biên tập xuất sắc nhất Chris Dickens Đề cử
Thiết kế trang phục xuất sắc nhất Paco Delgado Đề cử
Hóa trang xuất sắc nhất Lisa Westcott Đoạt giải
Hiệp hội phê bình phim Chicago 17 tháng 12 năm 2012 Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Anne Hathaway Đề cử [52]
Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất Eve Stewart và Anna Lynch-Robinson Đề cử
Thành tích triển vọng nhất Samantha Barks Đề cử
Giải Liên hoan đạo diễn phim Mỹ 2 tháng 2 năm 2013 Thành tựu của đạo diễn xuất sắc nhất trong phim Tom Hooper Đề cử
Giải Quả cầu vàng 13 tháng 1 năm 2013 Phim ca nhạc hoặc phim hài hay nhất Đoạt giải [53]
Nam diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất Hugh Jackman Đoạt giải
Nữ diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất Anne Hathaway Đoạt giải
Kịch bản xuất sắc nhất "Suddenly" Đề cử
Liên hoan phim Hollywood 23 tháng 10 năm 2012 Đoạn video giới thiệu xuất sắc nhất Erin Wyatt Đoạt giải [54]
Nhà sản xuất của năm Tim Bevan, Eric Fellner, Debra Hayward và Cameron Mackintosh Đoạt giải
Giải thưởng nổi bật Samantha Barks Đoạt giải
Hiệp hội phê bình phim Houston 5 tháng 1 năm 2013 Phim xuất sắc nhất Đề cử
Đạo diễn xuất sắc nhất Tom Hooper Đề cử
Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Hugh Jackman Đề cử
Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Anne Hathaway Đoạt giải
Thuật chiếu phim xuất sắc nhất Danny Cohen Đề cử
Ca khúc trong phim hay nhất "Suddenly" Đoạt giải
Giải thưởng phê bình phim Lancashire lần thứ 5 30 tháng 3 năm 2013 Phim xuất sắc nhất Đoạt giải [55]
Đạo diễn xuất sắc nhất Tom Hooper Đoạt giải
Hiệp hội phê bình phim London 20 tháng 1 năm 2013 Phim của năm Đề cử
Nam diễn viên chính của năm Hugh Jackman Đề cử
Nữ diễn viên phụ của năm Anne Hathaway Đoạt giải
Màn trình diễn diễn viên nhỏ tuổi của năm Samantha Barks Đề cử
Hiệp hội phê bình phim Los Angeles 9 tháng 12 năm 2012 Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Anne Hathaway
(cũng được đề cử trong The Dark Knight Rises)
Đề cử
Giải Điện ảnh của MTV 14 tháng 4 năm 2013 Màn trình diễn vai nữ chính xuất sắc nhất Anne Hathaway Đề cử [56]
Màn trình diễn đột phá xuất sắc nhất Eddie Redmayne Đề cử
Giây phút âm nhạc xuất sắc nhất Anne Hathaway Đề cử
Giải thưởng của Hội phê bình phim New York 3 tháng 12 năm 2012 Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Anne Hathaway
(cũng được đề cử trong The Dark Knight Rises)
Đề cử
Giải thưởng của Hội phê bình phim New York trực tuyến 3 tháng 12 năm 2012 Phim của năm Đoạt giải
Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Anne Hathaway Đoạt giải
Giải nhà sản xuất phim Mỹ 26 tháng 1 năm 2013 Sân khấu điện ảnh xuất sắc nhất Tim Bevan, Eric Fellner, Debra Hayward và Cameron Mackintosh Đề cử [57]
Giải truyền hình qua vệ tinh 16 tháng 12 năm 2012 Phim xuất sắc nhất Đề cử [58]
Dàn diễn viên xuất sắc nhất Dàn diễn viên của Les Misérables Đoạt giải
Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Hugh Jackman Đề cử
Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Eddie Redmayne Đề cử
Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Anne Hathaway Đoạt giải
Samantha Barks Đề cử
Sản xuất và chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất Eve Stewart và Anna Lynch-Robinson Đề cử
Thiết kế trang phục xuất sắc nhất nhất Paco Delgado Đề cử
Biên tập xuất sắc nhất nhất Chris Dickens Đề cử
Ca khúc trong phim hay nhất "Suddenly" Đoạt giải
Hiệu ứng âm thanh xuất sắc nhất John Warhurst, Lee Walpole và Simon Hayes Đoạt giải
Giải Sao Thổ 26 tháng 6 năm 2013 Phim hành động/mạo hiểm hay nhất Đề cử [59]
Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Hugh Jackman Đề cử
Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Anne Hathaway Đề cử
Diễn viên trẻ xuất sắc nhất Daniel Huttlestone Đề cử
Trang phục đẹp nhất Paco Delgado Đoạt giải
Thiết kế sản xuất xuất sắc nhất Eve Stewart Đề cử
Giải thưởng của Hội Diễn viên Điện ảnh 27 tháng 1 năm 2013 Màn trình diễn vượt trội của dàn diễn viên trong phim Dàn diễn viên của Les Misérables Đề cử [60]
Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Hugh Jackman Đề cử
Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Anne Hathaway Đoạt giải
Diễn viên đóng thế xuất sắc nhất Đề cử
Hiệp hội các nhà phê bình phim Washington D.C. 10 tháng 12 năm 2012 Phim xuất sắc nhất Đề cử [61]
Diễn xuất cảnh hành động xuất sắc nhất Dàn diễn viên của Les Misérables Đoạt giải
Đạo diễn xuất sắc nhất Hugh Jackman Đề cử
Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Samantha Barks Đề cử
Anne Hathaway Đoạt giải
Đạo diễn xuất sắc nhất Tom Hooper Đề cử
Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất Eve Stewart và Anna Lynch-Robinson Đề cử
Thuật chiếu phim xuất sắc nhất Danny Cohen Đề cử
Giải nghệ sĩ trẻ tuổi 5 tháng 5 năm 2013 Nam diễn viên phụ trẻ tuổi xuất sắc nhất Daniel Huttlestone Đề cử [62]
Nữ diễn viên phụ trẻ tuổi xuất sắc nhất Isabelle Allen Đoạt giải

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Les Misérables Movie Poster #3”. Internet Movie Poster Awards Gallery. Truy cập 7 tháng 2 năm 2012. 
  2. ^ a ă “Production Notes”. Universal Pictures. Truy cập 10 tháng 1 năm 2013. 
  3. ^ “Les Miserables”. British Board of Film Classification. 28 tháng 11 năm 2012. Truy cập 29 tháng 12 năm 2012. 
  4. ^ “'Les Miserables'”. Guardian. Truy cập 14 tháng 1 năm 2013. 
  5. ^ “'Les Miserables'”. Odeon. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2013. 
  6. ^ Breznican, Anthony (31 tháng 10 năm 2012). “Les Miz Soars Again”. Entertainment Weekly (Time Warner). Truy cập 7 tháng 11 năm 2012. 
  7. ^ a ă â “Les Misérables (2012)”. Box Office Mojo. IMDb. Truy cập 19 tháng 4 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |d= (trợ giúp)
  8. ^ “Twitter Watch: Hugh Jackman”. BroadwayWorld.com (Wisdom Digital Media). 8 tháng 3 năm 2012. Truy cập 28 tháng 7 năm 2012. 
  9. ^ “Les Miserables film gets world premiere in London”. The Telegraph. 6 thàng 12 năm 2012. Truy cập 7 tháng 12 năm 2012. 
  10. ^ Tara Fowler (18 tháng 9 năm 2012). “'Les Misérables' moves release date to Christmas Day”. Entertainment Weekly. Truy cập 18 tháng 12 năm 2012. 
  11. ^ “Phim: Les Misérables (Những Người Khốn Khổ)”. Vnexpress. 12 tháng 10 năm 2012. Truy cập 12 tháng 10 năm 2012. 
  12. ^ “Metacritic provided reviews”. 
  13. ^ “They Dreamed a Dream: Les Misérables Is a Whole New Kind of Movie Musical”. Time. Truy cập 13 tháng 10 năm 2013. 
  14. ^ Anne Hathaway wins Oscar for role in Les Misérables
  15. ^ a ă “Russell Crowe Joins Les Misérables”. ComingSoon.net. 8 tháng 9 năm 2011. Truy cập 10 tháng 9 năm 2011. 
  16. ^ a ă â b Galloway, Stephen (5 tháng 12 năm 2012). “Inside the Fight to Bring 'Les Mis' to the Screen”. Truy cập 27 tháng 12 năm 2012. 
  17. ^ Dawn, Randie (27 tháng 12 năm 2012). “'Les Miz': Hugh Jackman prepped with weights, washcloths, desire”. Los Angeles Times. Truy cập 27 tháng 12 năm 2012. 
  18. ^ “Hugh Jackman on Les Misérables, His Brutal Training Regimen, and His Javert Past”. Truy cập 28 tháng 1 năm 2013. 
  19. ^ Harp, Justin (26 tháng 12 năm 2012). “Russell Crowe reveals 'Les Misérables' doubts: 'I didn't like Javert'”. Digital Spy. Hearst Magazines UK. Truy cập 27 tháng 12 năm 2012. 
  20. ^ Fowler, Tara; Reynolds, Simon (11 tháng 1 năm 2012). “'Les Misérables' has an amazing cast, says Eddie Redmayne”. Digital Spy. Truy cập 28 tháng 7 năm 2012. 
  21. ^ “'Les Miserables' Movie Casts 'Gossip Girl' Actor Aaron Tveit as Rebellion Leader”. hollywoodreporter.com. 17 tháng 1 năm 2012. Truy cập 24 tháng 11 năm 2012. 
  22. ^ Jones, Kenneth (18 tháng 1 năm 2012). “Catch Him If You Can: Aaron Tveit Will Play Enjolras in Les Miz Film”. playbill.com. Truy cập 24 tháng 11 năm 2012. 
  23. ^ Patches, Matt (24 tháng 12 năm 2012). “'Les Mis' Star Amanda Seyfried on Cosette: 'We Needed to Find Ways to Make Her Interesting'”. Hollywood.com. Truy cập 27 tháng 12 năm 2012. 
  24. ^ Ryzik, Melena (4 tháng 12 năm 2012). “Amanda Seyfried and the Hathaway Extraction”. The New York Times. Truy cập 31 tháng 1 năm 2013. 
  25. ^ “Young Cosette cast in Les Misérables”. Screen Terrier. 22 tháng 3 năm 2012. Truy cập 28 tháng 7 năm 2012. 
  26. ^ Schillaci, Sophie A. (11 tháng 12 năm 2012). “Meet the 10-Year-Old Face of 'Les Miserables'”. The Hollywood Reporter. Truy cập 27 tháng 12 năm 2012. 
  27. ^ Schillaci, Sophie A. (13 tháng 10 năm 2013). “Isabelle Allen Beams Over 'Les Mis' Role”. .etonline. Truy cập 13 tháng 10 năm 2013. 
  28. ^ Labrecque, Jeff (1 tháng 11 năm 2011). “Eddie Redmayne lands 'Les Misérables' role”. Entertainment Weekly. Truy cập 28 tháng 7 năm 2012. 
  29. ^ “Les Misérables Adds Eddie Redmayne”. CommingSoon.net. 1 tháng 11 năm 2011. Truy cập 28 tháng 7 năm 2012. 
  30. ^ “Eddie Redmayne flexes vocal chords for Les Misérables”. BBC News. 12 tháng 1 năm 2012. 
  31. ^ Rosen, Christopher (18 tháng 12 năm 2012). “Eddie Redmayne, 'Les Miserables' Star, On Sets That Smell Like Dead Fish & Singing Till You Bleed”. Huffington Post. Truy cập 27 tháng 12 năm 2012. 
  32. ^ “Eddie Redmayne On His Les Misérables 'Love-In' With Amanda Seyfried and Helena Bonham Carter”. Broadway.com. 12 tháng 1 năm 2012. Truy cập 28 tháng 7 năm 2012. 
  33. ^ Jones, Kenneth (9 tháng 2 năm 2012). “Mistress of the House: Helena Bonham Carter Will Be Madame Thénardier in Les Miz Movie”. Playbill. Truy cập 28 tháng 7 năm 2012. 
  34. ^ a ă Jones, Kenneth (16 tháng 3 năm 2012). “Sacha Baron Cohen, Daniel Evans, Linzi Hateley and More Confirmed for 'Les Miz' Film”. Playbill. Truy cập 22 tháng 1 năm 2013. 
  35. ^ “Helena Bonham Carter's many faces”. BBC.co.uk. 31 tháng 12 năm 2011. Truy cập 1 tháng 2 năm 2012. 
  36. ^ “Sacha Baron Cohen: 'Les Miserables' Role Forced Him To Drop 'Django Unchained'”. Huffington Post. 3 tháng 1 năm 2013. Truy cập 4 tháng 1 năm 2013. 
  37. ^ “Samantha Barks to Play Éponine in film of Les Misérables”. BroadwayWorld.com (Wisdom Digital Media). 31 tháng 1 năm 2012. Truy cập 28 tháng 7 năm 2012. 
  38. ^ Zakarin, Jordan (11 tháng 12 năm 2012). “'Les Miserables' Breakout Star Samantha Barks Takes Eponine From Stage to Screen”. The Hollywood Reporter. Truy cập 27 tháng 12 năm 2012. 
  39. ^ Evans, Suzy (16 tháng 12 năm 2012). “Aaron Tveit on 'Les Miz,' His New TV Series, and His Broadway Dreams”. Truy cập 27 tháng 12 năm 2012. 
  40. ^ Bamigboye, Baz (27 tháng 1 năm 2012). “Stars of original Les Misérables get an encore they join the cast of new big screen remake”. Daily Mail (Associated Newspapers). Truy cập 27 tháng 1 năm 2012. 
  41. ^ Jones, Kenneth (16 tháng 3 năm 2012). “Sacha Baron Cohen, Daniel Evans, Linzi Hateley and More Confirmed for "Les Miz"”. Playbill. Truy cập 27 tháng 12 năm 2012. 
  42. ^ Ge, Linda (29 tháng 1 năm 2012). “Exclusive: Newcomer George Blagden joins Tom Hooper's 'Les Misérables' as Grantaire”. Up and Comers. Truy cập 25 tháng 9 năm 2012. 
  43. ^ “Hugh Skinner CV”. MarkhamFroggattandIrwin.com. Truy cập 27 tháng 7 năm 2012. 
  44. ^ “Gabriel Vick Official Twitter”. Twitter.com. 9 tháng 4 năm 2012. Truy cập 29 tháng 7 năm 2012. 
  45. ^ “George Blagden Signs On to Play Grantaire in LES MISERABLES Film”. BroadwayWorld.com. 30 tháng 1 năm 2012. Truy cập 4 tháng 1 năm 2013. 
  46. ^ “More Stage Vets Set for LES MISÉRABLES Film”. BroadwayWorld.com (Wisdom Digital Media). 15 tháng 3 năm 2012. Truy cập 25 tháng 9 năm 2012. 
  47. ^ “2013 Oscar Nominees”. Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh. 10 tháng 1 năm 2013. Truy cập 10 tháng 1 năm 2013. 
  48. ^ Breznican, Anthony (10 tháng 12 năm 2012). “'The Dark Knight Rises' ranks on American Film Institute's best-movies list”. Entertainment Weekly. Truy cập 13 tháng 12 năm 2012. 
  49. ^ Garry, Maddox (9 tháng 1 năm 2013). “Jackman, Kidman up for AACTA awards”. The Sydney Morning Herald (Fairfax Media). Truy cập 11 tháng năm 2013. 
  50. ^ “'Lincoln leads Bafta shortlist with ten nominations”. BBC News. 9 tháng 1 năm 2013. Truy cập 9 tháng 1 năm 2013. 
  51. ^ “'Lincoln' Leads the 18th Annual Critics' Choice Movie Awards Nominations with a Record 13 Noms”. Giải thưởng sự lựa chọn của các nhà phê bình. 11 tháng 12 năm 2012. Truy cập 13 tháng 12 năm 2012. 
  52. ^ “2012 Chicago Film Critics Awards”. Hiệp hội phê bình phim Chicago. Truy cập 17 tháng 12 năm 2012. 
  53. ^ “British stars lead the way as Helen Mirren, Benedict Cumberbatch and Adele are nominated for Golden Globe Awards”. Daily Mail. 13 tháng 12 năm 2012. Truy cập 13 tháng 12 năm 2012. 
  54. ^ “Hollywood Film Awards to Honor LES MIS' Samantha Barks”. Broadway World. 17 tháng 10 năm 2012. Truy cập 11 tháng 12 năm 2012. 
  55. ^ “5th Annual Lancashire Film Critics Awards - Awards Daily”. Awards Daily. 30 tháng 3 năm 2013. Truy cập 2 tháng 4 năm 2013. 
  56. ^ Warner, Denise (14 tháng 4 năm 2013). “2013 MTV Movie Awards winners list”. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập 15 tháng 4 năm 2013. 
  57. ^ “PGA Motion Picture Nominees Announced”. Giải nhà sản xuất phim Mỹ. 2 tháng 1 năm 2013. Truy cập 4 tháng 1 năm 2013. 
  58. ^ “Satellite Awards 2012”. International Press Academy. 5 tháng 12 năm 2012. Truy cập 5 tháng 12 năm 2012. 
  59. ^ “39th Annual Saturn Awards”. Giải Sao Thổ cho phim hành động/mạo hiểm/giật gân hay nhất. Bản gốc lưu trữ 20 tháng 2 năm 2013. Truy cập 20 tháng 2 năm 2013. 
  60. ^ “The 2012 Screen Actors Guild Awards”. DH. 12 tháng 12 năm 2012. Truy cập 12 tháng 12 năm 2012. 
  61. ^ “The 2012 WAFCA Awards”. DC Film Critics. 9 tháng 12 năm 2012. Truy cập 9 tháng 12 năm 2012. 
  62. ^ “34th Annual Young Artist Awards”. YoungArtistAwards.org. Truy cập 31 tháng 3 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]