Những phiên bản của Top Model

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Top Model là tên gọi chung của các định dạng chương trình truyền hình về đề tài người mẫu và thời trang được nhiều quốc gia trên khắp thế giới sản xuất. Cho đến hiện tại, nó đã phủ rộng 120 quốc gia (thị trường) với khoảng 40 phiên bản riêng biệt. Chương trình quy tụ dàn thí sinh trẻ đam mê ngành thời trang và có khát vọng trở thành người mẫu, người chiến thắng sẽ giành được danh hiệu và các giải thưởng bao gồm một hợp đồng với công ty quản lý người mẫu, làm người mẫu ảnh cho một tạp chí và tham gia vào chiến dịch quảng cáo của một hãng mỹ phẩm. Định dạng này được cựu siêu mẫu Tyra Banks sáng lập và phát triển từ chương trình đầu tiên lên sóng năm 2003, do 10x10 Entertainment sản xuất.

Định dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Các thí sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản kiểu America's Next Top Model ( Mỹ)

Mỗi chương trình Top Model có số tập dao động trong khoảng từ 9 đến 13 với 10-14 thí sinh khi bắt đầu. Thí sinh bị loại dần qua từng tập, nhưng đôi khi cũng có những trường hợp ngoại lệ như không có thí sinh bị loại hay nhiều thí sinh cùng bị loại (có thể cùng lúc hoặc không). Trong những tập phim đầu, các thí sinh được thay đổi diện mạo để thuận lợi hơn trong quá trình tranh tài, thường sau đợt loại thí sinh đầu tiên hoặc thứ hai. Khi chương trình đã đi được 2/3 chặng đường, chỉ còn lại 5-6 người, các thí sinh du hành đến một quốc gia khác để tìm kiếm cơ hội làm việc nước ngoài. Người chiến thắng cuối cùng sẽ giành được danh hiệu và toàn bộ giải thưởng đã được giới thiệu.

Một số phiên bản điển hình: America's Next Top Model (khởi xướng), Australia's Next Top Model, Britain's Next Top Model, & Canada's Next Top Model...

Phiên bản kiểu Germany's Next Topmodel ( Đức)

Dù xuất hiện sau phiên bản gốc ba năm, nhưng Germany's Next Topmodel có tác động khá lớn đến định dạng chung của Top Model thế giới. Định dạng của phiên bản này hơi khác với bản gốc. Một chương trình có khoảng 14-17 tập phim. Ở vòng bán kết, khoảng 100 ứng viên tiềm năng tụ hội cùng nhau nhưng sau đó chỉ có 12-19 người được chọn tranh tài chính thức. Một tập phim thông thường có một hoặc nhiều hoặc không có thí sinh bị loại và họ chỉ biết khi đã nghe nhận định riêng từ giám khảo. Đối với điểm đến quốc tế, các thí sinh được du ngoạn đến rất nhiều quốc gia hoặc điểm của một quốc gia, như mùa thi thứ tư của Germany's Next Topmodel đã đến 8 địa điểm và 6 quốc gia khác nhau.

Một số phiên bản điển hình: Germany's Next Topmodel, Austria's Next Topmodel...

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Ở mỗi tập Top Model gắn liền với một chủ đề theo tuần (thực, tuy nhiên khi ghi hình nước ngoài thời gian bị rút ngắn lại chỉ còn 3-4 ngày), bao gồm thử thách thời trang, chụp ảnh hoặc quay phim quảng cáo, (có thể) tham gia thử thách bổ sung tại phòng giám khảo, nghe nhận xét từ hội đồng giám khảo về chất lượng bức ảnh chụp hoặc đoạn phim và về thái độ làm việc, sau đó là phần loại thí sinh. Chủ đề của tuần có liên quan rất mật thiết đến giới người mẫu như giải quyết áp lực khi phỏng vấn, bán sản phẩm, "đi kiếm" hợp đồng trình diễn thời trang trong thời gian ở nước ngoài.

Thử thách[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu một tập, các thí sinh được giảng dạy những bài học rất cơ bản, ví dụ: cách đi đứng trên sàn diễn, biểu cảm trong ảnh, tự trang điểm và chọn trang phục thích hợp cho các sự kiện. Ngay sau đó là thử thách như: tham gia một buổi trình diễn tại quán bar, hay phỏng vấn người nổi tiếng tại dạ tiệc thảm đỏ. Người chiến thắng được hướng dẫn viên lựa chọn và trao giải thưởng. Giải thưởng đôi khi rất có giá trị về mặt vật chất hoặc tinh thần: dạ tiệc, hưởng thêm ảnh cho kì chụp hình cua tuần, trang sức... và người chiến thắng được mời bạn chung vui giải thưởng.

Ảnh chụp[sửa | sửa mã nguồn]

Khâu kế tiếp, thí sinh thể hiện cá tính qua bức ảnh, đó chính là một căn cứ để giám khảo nhận xét. Mỗi mùa thi đều gồm các bức ảnh không thể thiếu về: đồ lót, ảnh chân dụng, khỏa thân hay bán khỏa thân, tạo dáng với người mẫu nam hoặc với động vật. Và ít nhất một chủ đề chụp ảnh bị thay thế bằng đoạn phim quảng cáo sản phẩm.

Phê bình[sửa | sửa mã nguồn]

Phần cuối cùng của tập phim, các thí sinh bước vào phòng giám khảo diện kiến hội đồng, tham gia thử thách bổ sung (tạo dáng, bán sản phẩm, bước đi, thể hiện cá tính qua trang phục cho trước) được cho là phần đánh giá sơ khởi. Lần lượt từng thí sinh bước lên gần các giám khảo để xem ảnh chụp hoặc phim quảng cáo, nghe phê bình. Sau đó các thí sinh rời đi để các giám khảo bàn luận và khi quay lại họ sẽ biết ai là người bị loại. Người dẫn chương trình cầm trên tay hình của những người được biết tiếp và gọi tên họ theo thứ tự độ xuất sắc hội đồng đã sắp sẵn. Người được bước tiếp vào vòng trong được nhận lại tấm ảnh chụp hoặc ảnh một cảnh trong đoạn phim quảng cáo cùng lời chúc mừng: "Chúc mừng. Bạn vẫn tiếp tục trong cuộc đua trở thành Người mẫu đỉnh cao..." ("Congratulations. You are still in the running towards becoming... Next Top Model.") hoặc "Chúc mừng. Bạn vẫn trong cuộc đua Người mẫu đỉnh cao..." ("Congratulations. You are still in the running to becoming... Next Top Model") ở một vài quốc gia khác. Hai hay ba thí sinh cuối cùng sẽ rơi vào nhóm không an toàn và nghe chỉ trích riêng từ người dẫn chương trình, đồng thời là giám khảo chính trước khi thông báo người được đi tiếp. Tuy nhiên cũng có trường hợp không có hoặc tất cả thí sinh không an toàn đều bị loại.

Ở phiên bản kiểu Đức, các thí sinh lần lượt bước vào vòng hội đồng giám khảo và xem ảnh, nghe chỉ trích (không công bố chung như của Mỹ). Sau đó họ chờ giám khảo phân định và một lần nữa từng người bước vào phòng nhận kết quả. Phiên bản này không có nhóm thí sinh không an toàn, thứ tự thí sinh được gọi tên bước vào nhận kết quả không phản ánh độ xuất sắc của bức ảnh. Người bị loại có thể không phải là người bị gọi tên cuối cùng.

Chương trình trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Từ mùa thi thứ ba của Australia's Next Top Model xuất hiện chương trình truyền hình trực tiếp trong đó tạo cơ hội cho người xem hiểu rõ hơn về các thí sinh, ghi hình cuộc trình diễn cuối cùng, phần nhận xét của giám khảo và công bố người chiến thắng.

Top Model vòng quanh thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách 40 phiên bản thương hiệu Top Model trên khắp thế giới. Bảng chưa đầy đủ thông tin.

Quốc gia/
Vùng lãnh thổ
Tên địa phương Kênh
phát sóng
Năm Người dẫn
chương trình
Số
mùa thi
Ghi chú
 Afghanistan Afghanistan's Next Top Model[1] Mazar-i-Sharif 2005 1
 Anh Quốc Britain's Next Top Model LIVING 2005-hiện tại Lisa Butcher (2005)
Lisa Snowdon (2006-hiện tại)
5 Tại châu Á, hai mùa thi đầu được phát trên Channel V. A charity celebrity version is planned for next year as Comic Relief
Britain's Missing Top Model BBC Three 2008 Joe Duttine 1 Là phiên bản dành riêng cho thí sinh khuyết tật.
 Áo Austria's Next Topmodel[2] Puls4 2009 Lena Gercke Người dẫn mùa 1 là cựu thí sinh, người chiến thắng trong Lena won Germany's Next Topmodel, Mùa thi 1
Flag of Benelux.svg Benelux Benelux' Next Top Model 2BE, RTL5 2009-hiện tại Daphne Deckers 1 Thu hút các thí sinh đến từ Bỉ, LuxembourgHà Lan.
 Bỉ Topmodel KanaalTwee 2007-09 Ingrid Seynhaeve (2007)
An Lemmens (2008)
2 Xem thêm: Benelux' Next Top Model
 Bosna và Hercegovina OBN Star Model OBN 2009 Dejana Rosuljaš 1
Flag of Brazil.svg Brasil Brazil's Next Top Model SET 2007-hiện tại Fernanda Motta 2
 Canada Canada's Next Top Model CTV/A-Channel 2006-hiện tại Tricia Helfer (2006)
Jay Manuel (2007-hiện tại)
3[3] Đơn đăng ký mùa thi ba vẫn còn hạn đến 22 tháng 12, 2008.
Caribbe Caribbean's Next Top Model CaribVision[4] 2008 Carla Campbell 1
 Croatia Hrvatski Top Model RTL Televizija 2008 Tatjana Jurić 1
 Đan Mạch Denmark's Next Top Model' TV3 (Đan Mạch) 2005-06 Anne P 3 Là phiên bản tách ra từ Scandinavia's Next Top Model
Flag of Germany.svg Đức Germany's Next Topmodel ProSieben 2006-hiện tại Heidi Klum 4 Bản độc quyền đầu tiên có truyền hình trực tiếp chung kết
 Ghana Top Model Ghana GTV (Ghana) 2006 Abenaa 1 Bản độc quyền đầu tiên tại Châu Phi
 Hà Lan Holland's Next Top Model RTL5 2006-09 Yfke Sturm (2006-07)
Daphne Deckers (2007-09)
4 Là phiên bản thứ hai (sau Đức) có truyền hình trực tiếp đêm đăng quang. Xem thêm: Benelux's Next Top Model.
Cờ Honduras Honduras Amiga Top Model Commodore 2007 1 [1]
Flag of Greece.svg Hy Lạp &  Síp Next Top Model ANT1 2010 Vicky Kaya 1
 Hungary Hungary's Next Top Model Viasat 3 2006 Viktória Vámosi
Panni Epres
1
 Israel יוצר- עירד אשל
(The Models)
Israel 10 2005-08 Galit Gutman 3
 Kazakhstan Я красивая
(I'm Beautiful)
Hit TV[5] 2005 1
Flag of Mexico.svg México Mexico's Next Top Model[6] Sony Entertainment Television (Mỹ Latin) 2009 Montserrat Olivier
 Na Uy Norway's Next Top Model TV3 (Na Uy) 2005-hiện tại Kathrine Sørland (2005-06),
Vendela Kirsebom (2007-hiện tại)
6 Là phiên bản tách ra từ Scandinavia's Next Top Model
 Nepal Mega Model Image Channel 2008 Pallavi Dhakal 1
 New Zealand New Zealand's Next Top Model TV3 2009 TBA 1 Giám khảo Charlotte Dawson của Australia's Next Top Model được mời dẫn chương trình, nhưng đã từ chối.
 Nga Ты супермодель
(You're a supermodel)
STS (Nga) 2004-hiện tại Fyodor Bondarchuk (2004-05)
Alexander Tsekalo (2006)
Svetlana Bondarchuk (2007-hiện tại)
4
 Nigeria Nigeria's Next Top Model Hi TV 2007 Adoara Oleh & Oreke 1 Bản độc quyền thứ hai tại Châu Phi, sau Ghana.[7]
 Pháp France's Next Top Model Métropole 6 2005-hiện tại Odile Sarron (2005)
Adriana Karembeu (2007)
2
Flag of Finland (bordered).svg Phần Lan Suomen huippumalli haussa
(Searching for Finland's Top Model)
Nelonen 2008-hiện tại Anne Kukkohovi 2
 Philippines Philippines' Next Top Model RPN 2007 Ruffa Gutierrez-Bektas 1
Scandinavia Scandinavia's Next Top Model TV3 (Viasat) 2005-2006 Kathrine Sørland
Anne P
Mini Anden (2005)
Malin Persson (2006)
3 Thí sinh tham gia đến từ Na Uy, Đan MạchThụy Điển
 Serbia Top Model by N J Models

[8]

RTV BN 2007-hiện tại Sladjana Ivanisevic (2007-08) 1 Bản Top model đầu tiên của Nam Tư, sau đó được đổi thành Balkan Top model by N J Models.
 Slovakia Slovakia's Next Top Supermodel
(H'lada sa Supermodelka)
TV JOJ 2007 Simona Krainova 1
 Tây Ban Nha Supermodelo Cuatro 2006-08 Judit Mascó (2006-07)
Eloísa González (2008)
3
Tây Phi West Africa's Next Top Model[9] 2009 Oluchi Onweagba Thu hút các thí sinh đến từ Côte d'Ivoire, Ghana, Sierra Leone, Senegal, LiberiaNigeria
 Thái Lan Thailand's Next Top Model Thai TV3 2005 Sonia Couling 1
 Thổ Nhĩ Kỳ Turkey's Next Top Model
(Top Model Turkiye's)
Star TV (Thổ Nhĩ Kỳ) 2006 Deniz Akkaya 1
Flag of Sweden.svg Thụy Điển Sweden's Next Top Model TV3 (Thuỵ Điển) 2004-hiện tại Mini Anden (2004)
Malin Persson (2005-06)
Vendela Kirsebom (2007)
4 Là phiên bản tách ra từ Scandinavia's Next Top Model
 Thụy Sĩ Switzerland's Next Supermodel 3+ TV 2007-hiện tại Nadja Schildknecht (2007)
Franziska Knuppe (2008)
2
Trung Mỹ Super Model Centroamérica BCCA 2007 Leonora Jimenez [2] 1 Bản độc quyền chỉ áp dụng cho mùa thi đầu
Cờ Trung Quốc Trung Quốc China's Next Top Model
(CNTM閃亮模坊)
Dragon TV 2008 Li Ai 1 Shanghai Media Group sản xuất và ghi hình tại Thượng Hải. Truyền sóng qua vệ tinh Sichuan Satellite
 Úc Australia's Next Top Model FOX8 2005-hiện tại Erika Heynatz (2005-06)
Jodhi Meares (2007-08)
Sarah Murdoch (2008-hiện tại)
5 Tại Mỹ, phát trên kênh VH1 năm 2007; tại châu Á, cả bốn mùa thi đều đã phát trên Channel V.Là kênh truyền hình nổi tiếng của Pay-TV, Australia.
Flag of Italy.svg Ý Italia's Next Top Model' SKY Vivo [3] Thu 2007-hiện tại Natasha Stefanenko 2
 Việt Nam Vietnam's Next Top Model VTV3 2010-hiện tại Hà Anh (2010)
Xuân Lan (2011-2012)
Thanh Hằng (2013)
4 Từ mùa thi thứ 4 bắt đầu có sự xuất hiện của các thí sinh nam

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]