Nhiệt miệng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Aphthous ulcer
Phân loại và tư liệu bên ngoài

Vết loét miệng trên bề mặt lợi
ICD-10 K12.0
ICD-9 528.2
MedlinePlus 000998
eMedicine ent/700 derm/486 ped/2672
MeSH D013281

Loét aphthous (loét Áp - tơ) là một loại loét miệng, gây đau đớn ở bên trong miệng hoặc vòm họng, đặc trưng bởi một đốm trắng trong màng nhầy. Nguyên nhân của nó là chưa biết. Tình trạng này cũng được gọi là viêm miệng aphthous, và cách gọi khác là bệnh Sutton, đặc biệt là trong trường hợp loét lớn, nhiều, hoặc định kỳ.

Các đốm trắng có nghĩa là loét, nó đã được sử dụng trong nhiều năm để mô tả các ổ loét trên màng nhầy. Aphthous tái phát (viêm miệng RAS) có thể phân biệt với các bệnh khác tương tự có tổn thương răng miệng như: exanthems, herpes, hay một số virus. Viêm miệng aphthous tái phát là một trong những bệnh răng miệng thường gặp, Ít nhất 10% dân số bị mắc bệnh này, phụ nữ thường bị ảnh hưởng hơn so với nam giới. Khoảng 30-40% bệnh nhân thường xuyên tái phát bệnh có cùng một dòng họ hoặc một gia đình.

Dấu hiệu bên ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Loét Aphthous được phân loại theo đường kính của các tổn thương.

Loét nhỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Loét aphthous nhỏ có kích thước từ 3 – 10 mm, là một tổn thương viêm hình tròn với màu vàng hoặc hơi xám, gây đau. Khi ổ loét là màu trắng hoặc xám, sẽ gây đau đớn nhiều hơn và môi bị ảnh hưởng có thể sưng lên. Chúng có thể kéo dài khoảng 1 tuần.

Loét lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Loét aphthous lớn có hình dáng giống như loét nhỏ, nhưng kích thước lớn hơn 10 mm về đường kính và cực kỳ đau đớn. Thời gian lành bệnh thường kéo dài hơn một tháng và thường để lại một vết sẹo. Vết loét không di chuyển trên bề mặt lợi, nhưng biên giới loét có thể mở rộng trên bề mặt, chúng có thể kéo dài khoảng 10-14 ngày.

Triệu chứng[sửa | sửa mã nguồn]

Loét Aphthous không có mối liên quan đến thể trạng béo hay gầy, khỏe hay thường xuyên ốm yếu. Một số trường hợp thấy có tính chất gia đình, trong nhà có nhiều người cùng bị. Bệnh biểu hiện có tính chất chu kỳ lặp lại gần giống nhau , mỗi đợt kéo dài khoảng 10 - 15 ngày, bắt đầu bằng việc xuất hiện một hoặc vài ba đốm trắng nhỏ hơi đau, hơi nổi gồ lên trong niêm mạc miệng. Đốm trắng này to dần rồi vài ngày sau đồng loạt vỡ ra tạo thành vết loét. Vết loét lớn dần, nông,  thường không quá lớp biểu mô, bờ nham nhở, ăn mặn rất xót, nói đau cản trở giao tiếp. Nếu không có biến chứng nặng vết loét tự lành dần sau 7- 10 ngày.

+ Giai đoạn đầu: Xuất hiện các điểm tổn thương , có thể là một điểm hoặc nhiều điểm trong niêm mạc miệng với đặc điểm là những nốt nhỏ 1 –2 mm hơi rắn và hơi gồ lên mặt niên mạc, hơi đau. Sau vài ngày các điểm này lớn dần bên trong có dịch viêm nổi phồng căng bóng hoặc vỡ rất nhanh để lại ổ hoại tử

+ Giai đoạn ổ hoại tử:
Khi các mụn nước vỡ, hình thành ổ hoại tử là những đốm to 2 – 3 mm màu vàng nhạt, xơ dai bám phủ trên mặt, mảng hoại tử này sẽ tan rã dần thành dịch viêm hòa lẫn vào nước bọt và đi xuống đường tiêu hóa, giai đoạn này thường ngắn , chỉ kéo dài 1- 2 ngày hoặc ngắn hơn nữa. 

+ Giai đoạn ổ loét  Đây là giai đoạn kéo dài nhất, thường từ  5 - 7 ngày, có thể tới 15 ngày hay lâu hơn nữa. Thông thường bệnh nhân không chú ý , khi thấy ăn mặn xót và nói đau mới phát hiện thì bệnh đã tiến triển tới giai đoạn nảy rồi, (nhiều người nói tự nhiên tôi thấy bị loét ở miệng ăn mặn xót)

Thông thường nếu không có biến chứng các vết loét tự lành không để lại sẹo sau 5 - 7 ngày, bệnh nhân ăn uống sinh hoạt bình thường, rồi lại tái diễn đợt khác tương tự. Tùy từng người, và trên cùng một người bệnh cũng tùy từng thời gian mà thời gian lành bệnh dài ngắn khác nhau.

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên nhân chính xác của loét aphthous (nhiệt miệng) chưa được biết rõ, nhưng sự thiếu hụt vitamin B12 ,sắt , axit folic, thể chất chấn thương, đột ngột giảm cân, dị ứng thức ăn, phản ứng của hệ miễn dịch có thể góp phần vào sự phát triển của chúng. Nicorandil và một số loại hóa trị liệu cũng được ghi nhận có liên quan với loét aphthous Một nghiên cứu gần đây cho thấy có sự tương quan chặt chẽ giữa loét áp-tơ với các dị ứng với sữa bò.

Chấn thương vùng miệng là nguyên nhân phổ biến nhất, trầy xước do bàn chải đánh răng, rách với thực phẩm sắc hoặc mài mòn (như bánh mì nướng, khoai tây chiên hay đồ vật khác), do răng vô tình cắn phải (đặc biệt là phổ biến với hàm răng nanh sắc), sau khi mất răng nha khoa niềng răng có thể gây loét aphthous do gây chấn thương màng nhầy.

Các yếu tố khác, như là chất kích thích hóa học hoặc thương tích nhiệt cũng có thể dẫn đến sự phát triển của vết loét. Sử dụng kem đánh răng mà không có natri lauryl sulfat (SLS) có thể làm giảm tần số loét aphthous, nhưng một số nghiên cứu đã cho thấy không có mối liên quan giữa SLS trong kem đánh răng và loét aphthous. Bệnh Celiac đã được đề xuất như một nguyên nhân gây loét aphthous; nghiên cứu nhỏ đối với bệnh nhân bị bệnh celiac (33%) đã chứng tỏ một kết luận về mối liên quan giữa bệnh và kiểm soát loét aphthous, một số bệnh nhân được hưởng lợi từ loại bỏ gluten từ chế độ ăn uống của họ.

Loét miệng aphthous cũng thường thấy trong bệnh Crohn.

Không có dấu hiệu cho thấy loét aphtous là liên quan đến kinh nguyệt, mang thai và mãn kinh. Việc hút thuốc cho thấy có ảnh hưởng đến bệnh nhưng ít thường xuyên hơn.

Chữa trị[sửa | sửa mã nguồn]

Dùng thuốc bôi tạo màng ngăn[sửa | sửa mã nguồn]

Các vết loét trong niêm mạc miệng rất lâu lành là do thường xuyên bị chìm trong nước bọt và dịch thức ăn. Một phương pháp mới được đưa ra để chữa trị chứng loét miệng này là: dùng thuốc bôi trực tiếp lên vết loét, phối hợp 4 loại thuốc: Sunfamethoxazon, trimethoprim, Serathiopeptit, hoạt chất tạo màng ngăn.

Thuốc là dạng bột nhưng vào trong miệng gặp nước bọt và dịch huyết tương rỉ ra từ chỗ tổn thương tạo thành màng đủ sức chịu đựng được sự tấn công của nước bọt và dịch thức ăn từ 6 - 8 giờ, cứ 6- 7 giờ bôi thuốc một lần sẽ tạo được màng ngăn cách vết loét với dịch khoang miệng, từ đó làm cho vết loét rất nhanh lành. Đồng thời thuốc có tác dụng chống nhiễm khuẩn, kháng viêm, ngăn chặn hiện tượng tái phát. Kết hợp uống thêm vitamin, thuốc tăng cường chức năng gan hoặc kháng sinh nếu thấy cần thiết

Sau 6 - 7 lần bôi thuốc xuất hiện các dấu hiệu lành vết loét, sau 1 - 2 lần bôi thuốc ăn mặn không xót (do thuốc tạo màng ngăn). Tiếp tục bôi thuốc khi loét tái phát (do đặc điểm của bệnh là tái diễn từng đợt cho, nên chỉ bôi thuốc lúc có viêm loét) thấy dễn biến viêm loét nhẹ dần và thưa dần rồi khỏi, bệnh khỏi theo lộ trình giảm dần và thưa dần.

Các phương pháp điều trị theo toa[sửa | sửa mã nguồn]

Chế phẩm corticosteroid có chứa hydrocortisone acetonide hemisuccinate hoặc triamcinolone để kiểm soát các triệu chứng có hiệu quả trong điều trị loét nặng.

Việc áp dụng các nitrat bạc để đốt cháy những vết đau; có tác dụng giảm đau nhất thời nhưng không giảm thời gian lành vết loét, ở trẻ em nó có thể gây ra sự đổi màu răng nếu răng vẫn còn đang phát triển. Việc sử dụng tetracycline là gây tranh cãi, cũng như là điều trị với Levamisole, colchicine, gamma-globulin, Dapsone, thay thế estrogen và các thuốc ức chế monoamine oxidase.

Một thuốc mới hơn được gọi là Debacterol, một loại sulfuric acid / phenolics là giải pháp được sử dụng để đốt cháy vết đau, cho thấy có tác dụng giảm đau và giảm thời gian chữa bệnh. Tuy nhiên, mãi tới gần đây mới chấp thuận bởi FDA.

Tổn thương của vết loét chứa cấp cao của các "kích hoạt" các tế bào lớn: kích hoạt các tế bào lớn bí mật histamine (gây ra dị ứng) và leukotrienes (gây viêm). Aphthasol (Amlexanox 5%) có tác dụng ức chế histamine và tiết Leukotriene bởi các tế bào lớn. Việc áp dụng Amlexanox ở giai đoạn trước ngăn ngừa và làm giảm loét ở người. Vì vậy Amlexanox ức chế quá trình này trước khi viêm loét xảy ra. Aphthasol lần đầu tiên và duy nhất được FDA chấp thuận thuốc theo toa chỉ định để điều trị các vết loét.

Bệnh nặng đôi khi được điều trị bằng corticosteroid như prednisone và thuốc chống virus như acyclovir.

Phòng ngừa[sửa | sửa mã nguồn]

Nha khoa và các biện pháp phòng ngừa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thường xuyên sử dụng nước súc miệng không cồn có thể giúp ngăn ngừa hoặc giảm bớt tần suất của các vết loét. Trong thực tế, nghiên cứu đề nghị chính thức nước súc miệng để tạm thời có thể giúp giảm đau.
  • Trong một số trường hợp, thay đổi kem đánh răng có thể ngăn ngừa viêm loét aphthous, trong các nghiên cứu xem xét vai trò của natri sulfat dodecyl (natri lauryl sulfat hay SLS), một chất tẩy rửa có ở hầu hết các loại thuốc đánh răng. Sử dụng kem đánh răng không có hợp chất này, ở một số nghiên cứu cho thấy làm giảm số lượng, kích thước và tái phát loét.
  • Niềng răng Nha khoa là một chấn thương vật lý phổ biến có thể dẫn đến viêm loét aphthous, khung nha khoa được che phủ bằng sáp có thể làm giảm hiện tượng mài mòn niêm mạc này. Phòng tránh các loại chấn thương vật lý và hóa học sẽ ngăn chặn một số loét, nhưng thường là chấn thương do tai nạn, công tác phòng chống kiểu này thường không được thực hiện.

Liệu pháp dinh dưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Thiếu hụt Kẽm (Zn) đã được phát hiện ở những người bị tái phát viêm loét aphthous [37]. Các nghiên cứu nhỏ nghiên cứu vai trò của bổ sung kẽm hầu hết là có kết quả tích cực đặc biệt là đối với những người bị thiếu hụt, mặc dù một số nghiên cứu đã tìm thấy việc bổ xung Kẽm không có tác dụng điều trị.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]