Nhiệt miệng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Aphthous ulcer
Phân loại và tư liệu bên ngoài
Vết loét miệng trên bề mặt lợi
ICD-10 K12.0
ICD-9 528.2
MedlinePlus 000998
eMedicine ent/700 derm/486 ped/2672
MeSH D013281

Loét Áp - tơ (Aphthous ulcer) hay nhiệt miệng là chứng bệnh thường gặp, chiếm khoảng 10% dân số với các mức độ khác nhau, từ thỉnh thoảng mới bị và cũng nhanh khỏi đến thường xuyên tái phát và bị rất nặng lâu khỏi làm ảnh hưởng nhiều đến ăn uống và giao tiếp

I- Triệu chứng và diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Loét Aphthous không có mối liên quan đến thể trạng béo hay gầy, khỏe hay thường xuyên ốm yếu. Một số trường hợp thấy có tính chất gia đình, trong nhà có nhiều người cùng bị. Bệnh biểu hiện có tính chất chu kỳ lặp lại gần giống nhau , mỗi đợt kéo dài khoảng 10 - 15 ngày, bắt đầu bằng việc xuất hiện một hoặc vài ba đốm trắng nhỏ hơi đau, hơi nổi gồ lên trong niêm mạc miệng. Đốm trắng này to dần rồi vài ngày sau đồng loạt vỡ ra tạo thành vết loét. Vết loét lớn dần, nông,  thường không quá lớp biểu mô, bờ nham nhở, ăn mặn rất xót, nói đau cản trở giao tiếp. Nếu không có biến chứng nặng vết loét tự lành dần sau 7- 10 ngày.

+ Giai đoạn đầu: Xuất hiện các điểm tổn thương , có thể là một điểm hoặc nhiều điểm trong niêm mạc miệng với đặc điểm là những nốt nhỏ 1 –2 mm hơi rắn và hơi gồ lên mặt niên mạc, hơi đau. Sau vài ngày các điểm này lớn dần bên trong có dịch viêm nổi phồng căng bóng hoặc vỡ rất nhanh để lại ổ hoại tử

+ Giai đoạn ổ hoại tử:
Khi các mụn nước vỡ, hình thành ổ hoại tử là những đốm to 2 – 3 mm màu vàng nhạt, xơ dai bám phủ trên mặt, mảng hoại tử này sẽ tan rã dần thành dịch viêm hòa lẫn vào nước bọt và đi xuống đường tiêu hóa, giai đoạn này thường ngắn , chỉ kéo dài 1- 2 ngày hoặc ngắn hơn nữa. 

+ Giai đoạn ổ loét  Đây là giai đoạn kéo dài nhất, thường từ  5 - 7 ngày, có thể tới 15 ngày hay lâu hơn nữa. Thông thường bệnh nhân không chú ý , khi thấy ăn mặn xót và nói đau mới phát hiện thì bệnh đã tiến triển tới giai đoạn này.

Thông thường nếu không có biến chứng các vết loét tự lành không để lại sẹo sau 5 - 7 ngày, bệnh nhân ăn uống sinh hoạt bình thường, rồi lại tái diễn đợt khác tương tự. Tùy từng người, và trên cùng một người bệnh cũng tùy từng thời gian mà thời gian lành bệnh dài ngắn khác nhau.

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên nhân chính xác của loét aphthous (nhiệt miệng) chưa được biết rõ, nhưng sự thiếu hụt vitamin B12 ,sắt , axit folic, thể chất chấn thương, đột ngột giảm cân, dị ứng thức ăn, phản ứng của hệ miễn dịch có thể góp phần vào sự phát triển của chúng. Nicorandil và một số loại hóa trị liệu cũng được ghi nhận có liên quan với loét aphthous Một nghiên cứu gần đây cho thấy có sự tương quan chặt chẽ giữa loét áp-tơ với các dị ứng với sữa bò.

Chấn thương vùng miệng là nguyên nhân phổ biến nhất, trầy xước do bàn chải đánh răng, rách với thực phẩm sắc hoặc mài mòn (như bánh mì nướng, khoai tây chiên hay đồ vật khác), do răng vô tình cắn phải (đặc biệt là phổ biến với hàm răng nanh sắc), sau khi mất răng nha khoa niềng răng có thể gây loét aphthous do gây chấn thương màng nhầy.

Các yếu tố khác, như là chất kích thích hóa học hoặc thương tích nhiệt cũng có thể dẫn đến sự phát triển của vết loét. Sử dụng kem đánh răng mà không có natri lauryl sulfat (SLS) có thể làm giảm tần số loét aphthous, nhưng một số nghiên cứu đã cho thấy không có mối liên quan giữa SLS trong kem đánh răng và loét aphthous. Bệnh Celiac đã được đề xuất như một nguyên nhân gây loét aphthous; nghiên cứu nhỏ đối với bệnh nhân bị bệnh celiac (33%) đã chứng tỏ một kết luận về mối liên quan giữa bệnh và kiểm soát loét aphthous, một số bệnh nhân được hưởng lợi từ loại bỏ gluten từ chế độ ăn uống của họ.

Loét miệng aphthous cũng thường thấy trong bệnh Crohn.

Không có dấu hiệu cho thấy loét aphtous là liên quan đến kinh nguyệt, mang thaimãn kinh. Việc hút thuốc cho thấy có ảnh hưởng đến bệnh nhưng ít thường xuyên hơn.

Sự giống và khác nhau giữa nhiệt miệng và loét Áp - tơ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệt miệng là tên gọi theo dân gian chỉ tất cả các trường hợp bị lở loét trong miệng, loét Áp - tơ là tình trạng lở loét trong miệng, có tính đặc thù riêng diễn ra theo một trình tự và lặp lại nhiều lần tương tự như nhau. Trong dân gian thường kết luận là bị " nhiệt miệng " khi có bất kỳ vết loét nào trong miệng, không phân biệt cụ thể từng trường hợp, bao trùm tất cả các vết lở loét trong miệng, cứ có lở loét là bị " nhiệt miệng ". Loét Áp - tơ mô tả tình trạng lở loét trong miệng, có tính đặc thù riêng ,được lặp lại nhiều lần theo một trình tự diễn biến gần giống nhau. Như vậy, có thể hiểu "Nhiệt miệng" là một khái niêm chung chỉ mọi biểu hiện lở loét miệng, còn loét áp tơ là một bệnh cảnh riêng , có tính đặc thù , trong các trường hợp bị lở loét ở miệng, đồng thời nó chiếm đa số các trường hợp bị nhiệt miệng nặng .

- Nhiệt miệng là một triệu chứng do nhiều rất nhiều nguyên nhân gây nên: do chấn thương xây sát, do răng cắn, do rối loạn dinh dưỡng - nội tiết, suy nhược cơ thể, do thay đổi đột ngột chế độ ăn uống sinh hoạt, do sử dụng thuốc dài ngày..., thấy xuất hiện các vết lở loét trong miệng nhưng thường nhanh khỏi do sự điều chỉnh của cơ thể hoặc do loại bỏ được nguyên nhân gây bệnh và ít hoặc không thấy có hiện tượng tái phát lại theo từng đợt .Trong cộng đồng là những ca bệnh thấy thỉnh thoảng bị lở miệng vài ba ngày ,ăn các thứ mát hoặc không điều trị cũng thấy tự lành vết loét,khoảng thời gian bị lại rất dài nhiều tháng hoặc hàng năm .

- Loét áp - tơ: các vết loét thường nhiều hơn sâu và to hơn, thời gian loét kéo dài (có khi tới 15 ngày, đồng thời diễn biến lặp lại tương tự như các lần trước với tần suất rất dày, các vết loét đợt trước vừa mới khỏi được vài ba ngày hoặc nửa tháng đã lại phát sinh đợt loét mới.

IV- Chữa trị[sửa | sửa mã nguồn]

1- Dân gian chữa nhiệt miệng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong dân gian tồn tại nhiều bài thuốc chữa nhiệt miệng là những thức phẩm có tính mát như : Bột sắn dây, chè đỗ đen, chè xanh, Rau ngót, Rau má... đồng thời kiêng kỵ các thức ăn có tính nóng.

Bài thuốc dân gian dùng làm thức ăn:  Bí ngô 150g, đậu đen 30g, hạt sen 25g, gạo tẻ 50g, gạo nếp 20g, đường kính vừa đủ. Bí ngô gọt bỏ vỏ thái miếng. Đậu đen và hạt sen rửa sạch. Gạo nếp, gạo tẻ đãi sạch. Cho tất cả vào nồi, đổ nước hầm cho chín kỹ, đậu đen và hạt sen chín mềm, cho đường vào, thêm 2 - 3 lát gừng đập giập vào quấy đều là được. Múc ra bát ăn nguội. Công dụng: Thanh nhiệt chống viêm, dưỡng âm, phù hợp với người bị nhiệt miệng, tâm phiền, ngủ không yên, nước tiểu đỏ, người nóng,…

2- Thuốc Đông y chữa nhiệt miệng[sửa | sửa mã nguồn]

1 - Thuốc viên uống : AN THẢO :

Được bào chế từ bài thuốc đông y cổ phương có tác dụng Thanh nhiệt, lương huyết, dưỡng âm, điều trị hiệu quả chứng vị nhiệt gây ra nhiệt miệng, loét miệng, lưỡi, viêm lợi, chảy máu chân răng, hôi miệng. AN THẢO là thuốc thảo dược trị nhiệt miệng đầu tiên tại Việt Nam.

Công dụng : Thanh vị nhiệt, chữa viêm loét miệng, lưỡi, nhiệt miệng, viêm lợi, chảy máu chân răng, hôimiệng, phòng bệnh tái phát.

Chống chỉ định: Không dùng cho người có tỳ vị hư hàn, phụ nữ có thai.

2– Thuốc nước uống : KHẢU VIÊM THANH

Thuốc được bào chế bởi công nghệ hiện đại từ các vị thuốc đông y nổi tiếng trong đó: Dư cam tử, địa hoàng có chức năng bổ âm, giải độc, hạ nhiệt;xích thược có tác dụng thanh nhiệt, hoạt huyết hoá ứ, kháng khuẩn tiêu viêm, bổ âm thanh nhiệt, giải độc hoá ứ, cân bằng âm dương để điều tiết sinh lý của cơ thể người, nâng cao toàn diện khả năng miễn dịch của cơ thể, điều trị chứng viêm loét miệng. Thuốc có tác dụng dưỡng âm trợ dương, dưỡng huyết hoá ứ, thanh nhiệt hạ hoả, nâng cao khả năng miễn dịch.

3- Các bài thuốc đông y: Phương pháp chữa trị nhiệt miệng theo Đông y là thanh nhiệt giải độc, dưỡng âm, chống viêm, lương huyết.

Bài 1: Lá cỏ mực 1 nắm rửa sạch gia nát ép lấy nước cốt hòa với một ít mật ong, dùng bông thấm thuốc bôi vào chỗ viêm loét. Ngày bôi 2 - 3 lần.

Thuốc uống: Hoàng liên 10g, hoàng bá 10g, cỏ mực 20g, rau má 20g, tang diệp 16g, sài hồ 12g, cam thảo đất 16g, thục địa 12g, trúc diệp 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Công dụng: Thanh nhiệt, chống viêm, thích hợp khi bị nhiệt miệng, có những nốt loét ở đầu hoặc thân lưỡi, gây đau rát, xót, sốt, đại tiện táo, tiểu tiện đỏ lượng ít,…

Bài 2: Ngân hoa 10g, liên kiều 12g, tri mấu 10 g, hoàng bá 12g, bạch thược 12g, hồng hoa 10g, cỏ mực 20g, cát căn 20g, sinh địa 12g, trần bì 10g, đại táo 10g, trúc diệp 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần

Bài 3: Cát căn 20g, chi tử 12g, liên kiều 12g, đinh lăng 20g, sinh địa 12g, huyền sâm 12g, sâm đại hành 16g, đào nhân 10g, hồng hoa 10g, sài hồ 12g, mạch môn 16g, thiên môn 16g, trần bì 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Công dụng: Thanh nhiệt, lương huyết, chống viêm, thích hợp cho người bệnh có biểu hiện lợi sưng đau, dễ chảy máu, lưỡi đỏ, có những nốt loét trong khoang miệng, đau đớn, đại tiện táo, bụng đầy trướng,…

3- Dùng thuốc bôi tạo màng ngăn[sửa | sửa mã nguồn]

Các vết loét trong niêm mạc miệng rất lâu lành là do thường xuyên bị chìm trong nước bọt và dịch thức ăn. Một phương pháp mới được đưa ra để chữa trị chứng loét miệng này là: dùng thuốc bôi trực tiếp lên vết loét, phối hợp 4 loại thuốc: Sunfamethoxazon, trimethoprim, Serathiopeptit, hoạt chất tạo màng ngăn.

Thuốc là dạng bột nhưng vào trong miệng gặp nước bọt và dịch huyết tương rỉ ra từ chỗ tổn thương tạo thành màng đủ sức chịu đựng được sự tấn công của nước bọt và dịch thức ăn từ 6 - 8 giờ, cứ 6- 7 giờ bôi thuốc một lần sẽ tạo được màng ngăn cách vết loét với dịch khoang miệng, từ đó làm cho vết loét rất nhanh lành. Đồng thời thuốc có tác dụng chống nhiễm khuẩn, kháng viêm, ngăn chặn hiện tượng tái phát. Kết hợp uống thêm vitamin, thuốc tăng cường chức năng gan hoặc kháng sinh nếu thấy cần thiết

Sau 6 - 7 lần bôi thuốc xuất hiện các dấu hiệu lành vết loét, sau 1 - 2 lần bôi thuốc ăn mặn không xót (do thuốc tạo màng ngăn). Tiếp tục bôi thuốc khi loét tái phát (do đặc điểm của bệnh là tái diễn từng đợt cho, nên chỉ bôi thuốc lúc có viêm loét) thấy dễn biến viêm loét nhẹ dần và thưa dần rồi khỏi, bệnh khỏi theo lộ trình giảm dần và thưa dần.

4- Dùng thuốc bôi tây y[sửa | sửa mã nguồn]

1- Thuốc mỡ bôi : KAMISTAD – Gel N

Thuốc chữa viêm nhiễm răng miệng , Kamistad – Gel N của Đức được chiết xuất từ dịch chiết hoa cúc , loại thảo dược hoạt tính kháng khuẩn , kháng viêm cao , giảm đau

Sản phẩm là dạng thuốc bôi để điều trị lở nhiệt miệng , mang răng giả ( bôi vào các điểm chèn ép ) , nha chu viêm , viêm nhiễm răng miệng , trẻ em mọc răng sữa và người lớn mọc răng khôn , nứt nẻ môi , Kamistad – Gel N không đường , không corticoid sản phẩm được sử dụng rộng rãi cho mọi lứa tuổi , an toàn cho trẻ em Thuốc đóng dạng tup kẽm 10 – 15 gam , dùng bôi trực tiếp lên chỗ viêm loét

2- Thuốc mỡ bôi : ORACORTIA:

Thành phần : Triamcinolone acetonide.

Tác dụng : Là loại thuốc kháng viêm dạng Corticoide có tác dụng điều trị hỗ trợ làm giảm tạm thời các triệu chứng viêm nhiễm khoang miệng hay tổn thương dạng loét do chấn thương.

Đây là loại thuốc mỡ chứa trong 1 túi nhôm màu xanh , Mỗi lần bôi: các bạn lấy tăm bông chấm 1 ít rồi bôi lên chỗ nhiệt hoặc 1 lượng nhỏ lên vùng da tổn thương ( không chà xát ) để tạo màng mỏng. Dùng lúc đi ngủ để thuốc tiếp xúc vùng tổn thương suốt đêm. Nếu cần, 2 - 3 lần / ngày, sau khi ăn. Thường thì bôi trước lúc đi ngủ ( trưa, tối ) hoặc lúc bạn để "cố định" miệng , bôi ngày 3-4 lần , thuốc có vị bạc hà.

Chống chỉ định : Mẫn cảm với thành phần thuốc. Tổn thương do nhiễm nấm, bạch biến, herpes, khối u mới mọc, mụn trứng cá đỏ, loét hạch.

Không dùng trên vùng da rộng hay lượng lớn thời gian dài. Phụ nữ có thai/cho con bú. Tác dụng phụ : Teo da, ban đỏ, rạn và làm mỏng da, rạn da đặc biệt vùng nhiều nếp gấp

Dạng bào chế : Oracortia Thuốc mỡ dùng cho miệng/họng 0.1 g/100 g

3- Các loại thuốc bôi khác ( Không phải chuyên dùng chữa nhiệt miệng ):

+ Nitrate bạc:

Bôi trực tiếp lên tổn thương. Đã có những nghiên cứu ngẫu nhiên về hiệu quả của thuốc. Thuốc làm bớt đau ngay sau khi bôi và lành thương tổn trong vòng 3 - 5 ngày. Nhiều bệnh nhân không thích cảm giác nóng miệng sau khi bôi thuốc nhưng rất hài lòng khi hết đau hoàn toàn sau vài giờ.

Debacterol là phức hợp phenol sulfonate với sulfuric acid có tác dụng tương tự nitrate bạc. Đây là một hình thức đốt tiêu hủy vết loét bằng hóa chất. Cảm giác đau hầu như giảm ngay và vết thương sẽ lành sau 3 - 5 ngày. Thuốc bán theo toa và chỉ được dùng bởi nha sĩ hoặc bác sĩ. Thuốc chỉ được bôi 1 lần mỗi ngày.

Thuốc chỉ cung cấp theo toa bác sĩ nếu bệnh nhân chưa bớt sau khi sử dụng các thuốc thông thường:

+ Kem bôi có chứa triamcinolone acetonide:

Thuốc được bôi ngày 3 lần, tốt nhất là sau bữa ăn chính và trước khi đi ngủ.

+ Amlexanox (aphthasol):

Bôi ngày 4 lần, sau khi ăn và trước lúc ngủ. Chưa có nhiều bằng chứng về khả năng nhanh chóng làm giảm đau và lành loét của thuốc.

+ Dung dịch tetracycline (achromycin, nor-tet, panmycin, sumycin, tetracap):

Dùng súc miệng có thể giúp giảm đau và lành loét nhanh chóng. Tuy nhiên, thuốc không giúp ngăn ngừa tái phát. Khi dùng quá 5 ngày, thuốc có thể gây kích ứng và tạo điều kiện cho nấm phát triển.

+ Gel lidocaine: Gel 2% lidocaine:

Bôi chỗ loét ngày 4 lần. Tránh nuốt thuốc sau khi bôi và không nên dùng quá 4 lần mỗi ngày để tránh độc tính.

+ Dung dịch sucralfate (thường được dùng trong loét tiêu hóa):

Còn ít nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng sucralfate cho loét aphthe. Thường dùng bằng cách ngâm 1 viên thuốc vào 5-10ml (1-2 muỗng cà phê) nước. Bôi đều dung dịch lên niêm mạc miệng, để thuốc thấm vài phút rồi nhổ ra. Thực hiện 4 lần trong ngày.

Có thể dùng bổ sung nếu cơ thể người bệnh thiếu hụt folic acid, sắt hoặc vitamin B12. Cần uống nhiều tháng để tình trạng cải thiện

+ Chlorhexidine (cyteal, eludril):

Dung dịch súc miệng sát khuẩn giúp mau lành loét.

+ Corticosteroid:

Đối với trường hợp thật nặng, bác sĩ có thể xem xét cho dùng corticosteroid đường uống sau khi cân nhắc giữa lợi ích và tác hại. Tác dụng phụ của thuốc bao gồm tăng cân, suy giảm miễn dịch, xương giòn dễ gãy, tăng tiết acid dẫn đến loét dạ dày…

+ Thalidomide (thalomid):

Trường hợp bị bệnh rất nặng, bác sĩ có thể xem xét dùng thalidomide. Tuy nhiên do gây ra nhiều tác dụng phụ, thuốc chỉ được FDA chấp thuận sử dụng cho loét aphthe nặng ở bệnh nhân HIV dương tính.

5- Các phương pháp điều trị theo toa[sửa | sửa mã nguồn]

Chế phẩm corticosteroid có chứa hydrocortisone acetonide hemisuccinate hoặc triamcinolone để kiểm soát các triệu chứng có hiệu quả trong điều trị loét nặng.

Việc áp dụng các nitrat bạc để đốt cháy những vết đau; có tác dụng giảm đau nhất thời nhưng không giảm thời gian lành vết loét, ở trẻ em nó có thể gây ra sự đổi màu răng nếu răng vẫn còn đang phát triển. Việc sử dụng tetracycline là gây tranh cãi, cũng như là điều trị với Levamisole, colchicine, gamma-globulin, Dapsone, thay thế estrogen và các thuốc ức chế monoamine oxidase.

Một thuốc mới hơn được gọi là Debacterol, một loại sulfuric acid / phenolics là giải pháp được sử dụng để đốt cháy vết đau, cho thấy có tác dụng giảm đau và giảm thời gian chữa bệnh. Tuy nhiên, mãi tới gần đây mới chấp thuận bởi FDA.

Bệnh nặng đôi khi được điều trị bằng corticosteroid như prednisone và thuốc chống virus như acyclovir.

V- Những trường hợp không phải là nhiệt miệng[sửa | sửa mã nguồn]

1- Bệnh tưa lưỡi[sửa | sửa mã nguồn]

Bệnh tưa lưỡi ( miền nam gọi là đẹn ) thường ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới 1 tuổi , nhưng cũng có thể xuất hiện ở trẻ trên 10 tuổi . Bệnh do một loại nấm có tên gọi là Candida albicans thường có trong miệng của trẻ gây ra, đây là loại nấm cơ hội, luôn hiện diện trong cơ thể mỗi người và phát triển mạnh khi vệ sinh không tốt hoặc sức đề kháng kém, nấm cũng có thể lây nhiễm từ mẹ trong khi sinh hoặc nhiễm thứ phát sau sinh

Đặc điểm chung là lưỡi của trẻ thường xuyên bị nổi những mảng trắng trên bề mặt và có một số đường nứt nhỏ, hoặc có thể mọc ở niêm mạc miệng, mép. Khi trẻ vệ sinh răng miệng không tốt, loại nấm này sinh sôi nhanh chóng và gây bệnh, bắt đầu là những chấm trắng nhỏ xuất hiện ở phía trên đầu lưỡi, sau đó lan rộng thành mảng trắng trên mặt lưỡi , những đám màu trắng ngà mọc trên mặt lưỡi sau chuyển màu vàng nâu trên lưỡi hoặc cả vùng niêm mạc họng, thậm chí xuống vùng thanh môn và thanh quản, hiếm hơn có thể xuống sâu trong phổi gây nguy hiểm cho đường hô hấp hoặc qua đường tiêu hóa xuống dạ dày gây tiêu chảy... Nếu tự cạo hoặc bóc ra thì rất đau có thể khiến trẻ bỏ ăn .

Việc đề phòng bệnh nấm lưỡi ở trẻ em bằng cách cho trẻ ăn xong phải vệ sinh khoang miệng và lưỡi của trẻ đúng cách. Cho trẻ uống nước cho sạch khoang miệng và lưỡi ngay sau khi ăn , có thể dùng dung dịch nước muối 0,9% để súc miệng cho trẻ , hoặc cho trẻ mút , uống nước cam – chanh sau khi ăn để đẩy sạch cặn sữa . Về điều trị : vệ sinh lau lưỡi cho trẻ hàng ngày bằng nước muối sinh lý: Dùng gạc sạch thấm nước muối sinh lý lau lưỡi cho trẻ ngày 2 lần vào sáng và trước khi đi ngủ. Sau khi vệ sinh lưỡi miệng sạch sẽ, dùng 1 gói Nystatine 1g loại dùng cho trẻ nhỏ pha với 2 thìa cà phê nước đun sôi để nguội rồi dùng tăm to quấn bông để tẩm thuốc đã pha lau rà nhẹ trên mặt lưỡi ngày 1 – 2 lần, sau khi lau khoảng 20 - 25 phút mới cho bé ăn . Trường hợp nặng , theo sự chỉ dẫn của bác sĩ có thể cho uống các loại thuốc kháng nấm .

2- Bệnh viêm lưỡi hình bản đồ[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là bệnh lành tính thường gặp ở lứa tuổi lớn hơn , đôi khi có cả ở người lớn , không ảnh hưởng đến ăn uống , nếu bị nặng có ảnh hưởng ít đến vị giác . Hiện nay nguyên nhân của bệnh viêm lưỡi bản đồ vẫn chưa được biết rõ và không có thuốc điều trị đặc hiệu để chữa hết bệnh viêm lưỡi bản đồ mà nó có thể hết một cách tự nhiên. Bé vẫn sống và sinh hoạt bình thường. Một số trường hợp kèm viêm loét gây đau ảnh hưởng đến ăn uống thì chỉ cần dùng thuốc giảm đau, thuốc kháng viêm.

3- Bệnh chân tay miệng[sửa | sửa mã nguồn]

Bệnh thường ở lứa tuổi trẻ mẫu giáo . Nguyên nhân chính gây bệnh là do virut Coxsakie 16, một týp rất lành tính gây ra và người bệnh tự khỏi sau vài ngày. Hiện nay một số ít trường hợp do virut Entero 71 và một số týp virut khác cũng gây ra bệnh tay chân miệng. Các tác nhân này nguy hiểm hơn virut Coxsakie A16 rất nhiều, đặc biệt là virut Entero 71 có thể gây biến chứng ở não và tim và phổi . Bệnh thường là lành tính , tự khỏi nếu không có biến chứng , bệnh chủ yếu lây nhiễm qua đường tiêu hóa, trực tiếp phân - miệng hoặc gián tiếp qua nước, thực phẩm, tay bẩn... bị ô nhiễm phân người bệnh , một số ít lây qua đường hô hấp .

Bệnh nhi thường sốt nhẹ , quấy khóc , có thể có sốt cao hoảng loạn khi có biến chứng viêm não , viêm màng tim , viêm phổ hoặc bệnh ở thể nặng . Vài ngày sau ở lòng bàn chân , bàn tay hoặc niêm mạc miệng xuất hiện những sẩn cục nổi gờ hẳn lên , hơi ngứa , hơi đau khi va chạm vào . Không có biến chứng nhiễm trùng hoặc biến chứng nặng nề khác thì các mụn sẩn này từ xẹp và mất dần sau 5 - 6 ngày

Về điều trị hiện tại chưa có thuốc điều trị đặc hiệu mà chủ yếu là điều trị triệu chứng để giảm sốt, đau nhức do các vết loét gây ra, kết hợp với tăng sức đề kháng , không cần kiêng cữ gió và ánh sáng, không chọc vỡ bóng nước, không đắp lá cây vì sẽ gây nhiễm trùng da. Theo dõi diễn biến các tổn thương da niêm và tình trạng chung của trẻ. Cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế khi có những dấu hiệu bệnh nặng hơn như sốt cao,khó thở, rối loạn tri giác, co giật, bóng nước có mủ, máu.

4- Bệnh Ung thư lưỡi[sửa | sửa mã nguồn]

Thường gặp là ung thư tế bào vẩy phát sinh từ sự biến đổi ác tính biểu mô phủ lưỡi hoặc các mô liên kết cấu trúc lưỡi . Ðây là loại ung thư thường gặp nhất ở vùng miệng và lưỡi.Việc chẩn đoán là phải dựa trên kết quả sinh thiết tế bào , phát hiện thấy tế bào ác tính

Triệu chứng thường gặp là phát hiện thấy một vết loét đơn độc lâu ngày, màu trắng hay đỏ ở bờ bên của lưỡi, không đau , ăn mặn không thấy xót , bờ hoặc xung quanh vết loét không có tổ chức gai nụ điển hình của lưỡi hoặc trên ổ loét phủ giả mạc dễ chảy máu, loét phát triển nhanh, lan rộng làm lưỡi hạn chế vận động, không di động được. Thương tổn thường sùi loét, được tạo thành từ một vết loét không đều ở đáy có mủ máu, bờ nham nhở, chảy máu khi va chạm. Đôi khi không có dấu hiệu loét mà là một nhân lớn gắn chặt xuống lớp dưới, nhô lên dưới lớp niêm mạc căng nhẵn, có màu tím nhạt, lớp niêm mạc lỗ rỗ những lổ nhỏ mà khi ấn vào sẽ làm rỉ ra một chất trắng, sản phẩm của hoại tử ở phía dưới . Giai đoạn tiến triển hơn, thể loét chiếm ưu thế, loét sâu lan rộng xuống bề mặt hoặc vào mặt dưới của lưỡi xuống sàn miệng gây đau đớn dữ dội, bội nhiễm, có mùi hôi, rất dễ chảy máu thậm chí có thể gây chảy máu nhiều ảnh hưởng đến tính mạng.

Điều trị :

Phẫu thuật :

Là biện pháp cơ bản nhất điều trị bệnh ung thư lưỡi nhất là ở giai đoạn sớm bằng cách phẫu thuật cắt rộng u, cắt lưỡi bán phần + vét hạch cổ hoặc cắt nửa lưỡi + cắt nửa sàn miệng + cắt xương hàm dưới + vét hạch cổ + tạo hình. Ở giai đoạn sớm có thể điều trị triệt căn bằng phẫu thuật, ở giai đoạn muộn hơn cần phải kết hợp điều trị phẫu thuật, xạ trị và hóa trị nhằm kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Trong một số trường hợp ở giai đoạn muộn khi có chảy máu nhiều tại u phải phẫu thuật thắt động mạch cảnh ngoài để cầm máu

Xạ trị :

Có thể xạ trị đơn thuần trong các trường hợp ung thư lưỡi giai đoạn muộn không còn chỉ định phẫu thuật hoặc xạ trị triệt căn trong trường hợp giai đoạn sớm. Xạ trị cũng có thể dùng sau phẫu thuật nhằm diệt nốt những tế bào ung thư còn sót lại. Ngoài ra có thể xạ trị tại chỗ (xạ trị áp sát) bằng cách dùng nguồn phóng xạ đặt hoặc cắm vào tổn thương ung thư tại lưỡi nhằm tiêu diệt tổn thương. Trong một số trường hợp ở giai đoạn muộn, tổn thương di căn xương; xạ trị vào vùng tổn thương di căn xương giúp giảm đau.

Hóa chất :

Có thể dùng đường toàn thân hoặc đường động mạch lưỡi, có thể đơn hoá chất hoặc phối hợp đa hoá chất. Hóa chất có thể dùng trước, sau phẫu thuật-xạ trị hoặc hóa chất điều trị triệu chứng.

Điều trị hoá chất trước phẫu thuật hoặc xạ trị nhằm mục đích giảm thể tích khối u, ngăn chặn sự phát triển của khối u, khu trú tổn thương để phẫu thuật và xạ trị thuận lợi hơn. Điều trị hóa chất triệu chứng ở giai đoạn muộn giúp cải thiện thời gian sống thêm, nâng cao chất lượng sống.

Khi có bất kỳ triệu chứng bất thường nào trên lưỡi, bạn cần đến ngay cơ sở chuyên khoa để được thăm khám và điều trị kịp thời

5-Bệnh viêm lợi[sửa | sửa mã nguồn]

Một phần hay toàn bộ lợi quả phát sưng đỏ lấp đầy kẽ chân răng , gây ngứa chân răng , sờ vào đau và chảy máu .

Viêm lợi được hiểu là tổn thương viêm cấp tính hay mạn tính xảy ra ở tổ chức phần mềm xung quanh răng. Tổn thương có thể chỉ khu trú ở lợi, không ảnh hưởng đến xương ổ răng, dây chằng quanh răng và xương răng. Khi viêm xâm nhập sâu xuống các phần khác của vùng quanh răng thì tiến triển thành bệnh viêm quanh răng.

Nguyên nhân gây bệnh ở lợi có nhiều nguyên nhân nhưng phổ biến nhất phải kể tới là do vi khuẩn trong mảng bám răng, cao răng không được làm sạch còn tồn tại gây nên tình trạng viêm. Đây cũng là tình trạng viêm phổ biến nhất được gọi là viêm lợi đơn giản. Tuy vậy cũng có thể do rất nhiều nguyên nhân khác như: virus, thuốc, hormone, do sang chấn khớp cắn…..

Về điều trị cần vệ sinh răng miệng thường xuyên , lấy mảng cao răng , kháng sinh đặc hiệu vùng răng miệng : Vidorygil

VI- Một số điều nên biết về bệnh nhiệt miệng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệt miệng thường không nguy hiểm , nhiều trường hợp nó là 1 triệu chứng của bệnh khác , tuy nhiên ở một số người bị rất nặng , trong cộng đồng có nhiều quan niệm khác nhau trái chiều về " Nhiệt miệng "

+ Nhiệt miệng là tên gọi theo dân gian , chỉ tình trạng trong miệng có những lở loét . Trong các sách bệnh học của y học hiện đại , các y văn của y học cổ truyền không có BỆNH NHIỆT MIỆNG , y học hiên đại mô tả hội chứng LOÉT ÁP- TƠ , y học cổ truyền mô tả chứng KHẨU CAM .

+ Bệnh có tính cơ địa , mức độ nặng nhẹ rất khác nhau ở từng người và ở cùng một người cũng thay đổi ( khi nhiều , khi ít ) theo tình trạng sức khỏe hoặc chế độ làm việc - sinh hoạt . Nhiều người cả đời không bao giờ bị nhiệt miệng ( chiểm tỷ lệ 86 % ) , có người thỉnh thoảng mới bị và nhanh khỏi ( tỷ lệ khoảng 12 % ) . Nhưng cũng có người bị thường xuyên ( chiếm tỷ lệ khoảng 2 % ) , khỏi được vài ngày hoặc 1 – 2 tuần đã lại bị đợt khác , vết loét sâu và rộng làm ăn uống khó khăn , cơ thể gầy yếu suy nhược .... đã uống thuốc và chữa trị nhiều nhưng tình trạng bệnh vẫn không được cải thiện

+ Bệnh thường bắt đầu bằng sự xuất hiện mụn nước nhỏ rất dễ vỡ, để lại một vết lở nông ở niêm mạc miệng, hình tròn hoặc bầu dục, đường kính từ 2–10 mm, bờ rõ rệt, đáy màu vàng nhạt, xung quanh có một đường viền màu đỏ tươi, rất đau lúc nói hoặc khi ăn uống.Đa phần tự khỏi rồi lại tái diễn đợt khác , đôi khi liên quan đến tình trạng sức khỏe và chế độ ăn uống - sinh hoạt cho nên mọi người thường cho là do ăn phải thứ nóng nên bị " nhiệt "

+ Các vết loét xuất hiện ở mặt trong má, ở môi , ở lợi, ở đầu lưỡi, hai bên rìa lưỡi …, các vết loét phải ở vùng có nước bọt ( ở niêm mạc miệng ) ở các nơi khác không phải là nhiệt miệng

+ Bệnh thường không gây sốt, không gây sưng hạch vùng lân cận và tự khỏi ( nếu không có biến chứng nặng ). Nhiệt miệng diễn biến lành tính ít nguy hiểm chưa được y học quan tâm nghiên cứu nhiều , vết loét tự lành, không để lại sẹo . Đặc biệt có một số trường hợp vết loét sâu và tái diễn nhiều lần thì để lại sẹo ,sẹo này co kéo làm miệng bị co nhỏ lại không há to được

VII- Phòng ngừa[sửa | sửa mã nguồn]

Nha khoa và các biện pháp phòng ngừa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thường xuyên sử dụng nước súc miệng không cồn có thể giúp ngăn ngừa hoặc giảm bớt tần suất của các vết loét. Trong thực tế, nghiên cứu đề nghị chính thức nước súc miệng để tạm thời có thể giúp giảm đau.
  • Trong một số trường hợp, thay đổi kem đánh răng có thể ngăn ngừa viêm loét aphthous, trong các nghiên cứu xem xét vai trò của natri sulfat dodecyl (natri lauryl sulfat hay SLS), một chất tẩy rửa có ở hầu hết các loại thuốc đánh răng. Sử dụng kem đánh răng không có hợp chất này, ở một số nghiên cứu cho thấy làm giảm số lượng, kích thước và tái phát loét.
  • Niềng răng Nha khoa là một chấn thương vật lý phổ biến có thể dẫn đến viêm loét aphthous, khung nha khoa được che phủ bằng sáp có thể làm giảm hiện tượng mài mòn niêm mạc này. Phòng tránh các loại chấn thương vật lý và hóa học sẽ ngăn chặn một số loét, nhưng thường là chấn thương do tai nạn, công tác phòng chống kiểu này thường không được thực hiện.

Liệu pháp dinh dưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Thiếu hụt Kẽm (Zn) đã được phát hiện ở những người bị tái phát viêm loét aphthous. Các nghiên cứu nhỏ nghiên cứu vai trò của bổ sung kẽm hầu hết là có kết quả tích cực đặc biệt là đối với những người bị thiếu hụt, mặc dù một số nghiên cứu đã tìm thấy việc bổ sung kẽm không có tác dụng điều trị.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]