Nicolai Rubtsov

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nicolai Rubtsov
Sinh 3 tháng 1 năm 1936
Flag of the Soviet Union.svg Arkhangelsk, Liên Xô
Mất 19 tháng 1 năm 1971
Flag of the Soviet Union.svg Vologda, Liên Xô
Công việc Nhà thơ
Thể loại Thơ

Nicolai Mikhailovich Rubtsov (tiếng Nga: Николай Михайлович Рубцов, 3 tháng 1 năm 1936 – 19 tháng 1 năm 1971) – nhà thơ trữ tình Nga - Xô Viết.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nicolai Rubtsov sinh ở Emetsk, tỉnh Arkhangelsk. Năm 1940 cả gia đình chuyển về Vologda. Cậu bé Nicolai Rubtsov sớm mồ côi bố, Mikhail Rubtsov (1900 – 1962), theo như cách nghĩ của các con thì bố chết ở chiến trường năm 1941 (trên thực tế ông vẫn sống sau chiến tranh nhưng không liên hệ gì với các con mà sống riêng). Năm 1942 mẹ mất, cả Nicolai Rubtsov và em trai được gửi vào trại tế bần và được học hết lớp 7. Từ năm 1950 – 1952 nhà thơ tương lai học ở trường trung học lâm nghiệp. Hai năm sau đó làm thợ đốt lò trên tàu đánh cá ở Arkhangelsk và hai năm làm công nhân ở nhà máy quốc phòng Kirov, Leningrad. Các năm 1955 – 1959 phục vụ quân đội ở Hạm đội Biển bắc. Sau khi giải ngũ tiếp tục vào làm công nhân ở nhà máy Kirov.

Năm 1962 vào học trường viết văn Maxim Gorky, làm quen với nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng và in những tập thơ đầu tiên. Tốt nghiệp trường viết văn năm 1969 và được nhận căn hộ riêng. Rubtsov mất tại nhà riêng trong một lần say rượu, cãi nhau và gây lộn với vợ. Người này sau đó bị vào tù, sau khi ra tù đi đọc thơ của chồng và giải thích với công chúng về số phận run rủi đã đẩy đến cái chết của Nicolai Rubtsov.

Thơ trữ tình của Nicolai Rubtsov giản dị, mang hương đồng gió nội của những vùng quê Vologda. Trong thơ ông có một nỗi buồn vĩnh cửu về số phận của cuộc đời mình cũng như số phận của đất nước. Nicolai Rubtsov là một trong những nhà thơ trữ tình được yêu thích nhất ở Nga. Tượng đài của ông được đặt ở nhiều thành phố của Nga.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Nicolai Rubtsov ở nhà máy Kirov
  • Лирика (Thơ trữ tình, 1965),
  • Звезда полей (Ngôi sao đồng nội, 1967),
  • Душа хранит (Tân hồn gìn giữ, 1969)
  • Сосен шум (Tiếng động hàng thông, 1970),
  • Стихотворения. 1953—1971(Thơ 1953 –1971, in năm 1977).
  • Зелёные цветы (Những bông hoa màu xanh, 1971)
  • Последний пароход (Con tàu cuối, 1973)
  • Избранная лирика (Thơ trữ tình chọn lọc, 1974)
  • Подорожники (Những bụi mã đề, 1975)

Một vài bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Pаcплaта
 
Я забыл, что такое любовь,
И под лунным над городом светом
Столько выпалил клятвенных слов,
Что мрачнею, как вспомню об этом.
 
И однажды, прижатый к стене
Безобразьем, идущим по следу,
Одиноко я вскрикну во сне
И проснусь, и уйду, и уеду...
 
Поздно ночью откроется дверь.
Невеселая будет минута.
У порога я встану, как зверь,
Захотевший любви и уюта.
 
Побледнеет и скажет: - Уйди!
Наша дружба теперь позади!
Ничего для тебя я не значу!
Уходи! Не гляди, что я плачу!..
 
И опять по дороге лесной
Там, где свадьбы, бывало, летели,
Неприкаянный, мрачный, ночной,
Я тревожно уйду по метели...
 
Улетели листья
 
Улетели листья с тополей -
Повторилась в мире неизбежность...
Не жалей ты листья, не жалей,
А жалей любовь мою и нежность!
 
Пусть деревья голые стоят,
Не кляни ты шумные метели!
Разве в этом кто-то виноват,
Что с деревьев листья улетели?
 
Зачем?
 
Она совсем еще ребенок -
И ясен взгляд, и голос тонок.
Она совсем еще дитя -
Живет играя и шутя.
 
- Давай походим темным лесом!
- Давай разбудим соловья!
Там у дороги под навесом
Моя любимая скамья.
 
- Давай сбежим скорее в поле!
- Давай посмотрим на зарю!.. -
Я подчиняюсь поневоле
И тоже что-то говорю.
 
Но чувства борются во мне,
Я в жизни знаю слишком много,
И часто с ней наедине
Мне нелегко и одиноко.
 
И вот она уже грустна,
И вот уже серьезней встречи,
Совсем запутает она
Клубок моих противоречий!
 
Зачем же мы ходили лесом?
Зачем будили соловья?
Зачем стояла под навесом
Та одинокая скамья?
Anh đã quên mất rằng yêu là gì
 
Anh đã quên mất rằng yêu là gì
Khi bước đi dưới trăng trên đường phố
Đã thốt ra biết bao lời nguyền rủa
Giờ nhớ về bỗng thấy tối tăm ghê.
 
Có một lần anh áp mặt vào tường
Theo dấu vết một hình thù quái gở
Rồi một mình kêu lên trong giấc ngủ
Khi thức giấc, anh cất bước lên đường.
 
Cánh cửa mở ra trong đêm muộn màng
Em không vui, gương mặt còn ngái ngủ
Anh đứng bên bục cửa như con thú
Khao khát vô cùng ấm áp tình thương.
 
Anh đi đi! Em tái nhợt kêu lên
Tình cảm chúng mình chỉ là quá khứ
Giờ với anh, em không còn gì nữa
Anh đi đi! Em khóc, chớ đứng nhìn…
 
Và anh quay lại theo con đường rừng
Trên con đường đã đi nhiều đám cưới
Không tự chủ được mình, rất tăm tối
Anh lo âu đi trong bão tuyết đêm…
 
Những chiếc lá bay đi
 
Từ hàng dương bay đi từng chiếc lá
Điều hiển nhiên vẫn lặp lại trong đời
Đừng thương tiếc lá làm chi, em ạ
Mà hãy thương hiền dịu mối tình tôi!
 
Em cứ để mặc hàng cây trần trụi
Bão tuyết gào, em trách bão mà chi!
Bởi ở đây không ai người có lỗi
Khi lìa cành những chiếc lá bay đi.
 
Tại sao?
 
Em hãy là con trẻ
Giọng thanh nhẹ, mắt nai
Em hãy là con trẻ
Em chỉ biết đùa chơi.
 
– Nào, ta vào rừng nhé!
– Nào, đánh thức họa mi!
Ở đó, dưới mái che
Chiếc ghế dài yêu quý.
 
– Nào, cùng chạy ra đồng!
– Nào, cùng ngắm hoàng hôn!
Tôi nghe theo miễn cưỡng
Nói lời gì mông lung.
 
Nhưng tình cảm ngại ngùng
Tôi biết nhiều thứ quá
Thường với em gặp gỡ
Cô đơn, không nhẹ nhàng.
 
Nhưng mà em buồn rầu
Gặp nhau nghiêm túc hẳn
Em hoàn toàn nhầm lẫn
Những mâu thuẫn của tôi!
 
Tại sao vào rừng thế?
Sao đánh thức họa mi?
Sao đứng dưới mái che
Chiếc ghế dài đơn lẻ?
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]