Ninh Kiều

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ninh Kiều
Quận
Bến tàu Ninh Kiều.jpg
Bến tàu khách Ninh Kiều
Địa lý
Tọa độ: 10°01′58″B 105°45′34″Đ / 10,03278°B 105,75944°Đ / 10.03278; 105.75944Tọa độ: 10°01′58″B 105°45′34″Đ / 10,03278°B 105,75944°Đ / 10.03278; 105.75944
Diện tích 29,2 km²[1]
Dân số (2009)  
 Tổng cộng 243.794 người[1]
Dân tộc Chủ yếu là Kinh, Khmer, Hoa
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tỉnh Thành phố Cần Thơ
 Chủ tịch HĐND Nguyễn Hữu Lợi
 Bí thư Huyện ủy Võ Thành Thống
Phân chia hành chính Gồm có 13 phường.
Mã hành chính 916[1]
Website Trang chính thức

Ninh Kiềuquận trung tâm của thành phố Cần Thơ, Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam.

Quận Ninh Kiều được thành lập theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 2 tháng 1 năm 2004 trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của phần lớn các phường nội thành của thành phố Cần Thơ trực thuộc tỉnh Cần Thơ cũ. Quận có Bến Ninh Kiều, là một địa danh du lịch nổi tiếng của Cần Thơ. Nơi đây đặt trụ sở của nhiều ban ngành của thành phố, điển hình là ủy ban nhân dân thành phố tại số 2 đại lộ Hòa Bình, phường Tân An.

Địa danh Ninh Kiều đã xuất hiện ở Cần Thơ từ năm 1958, ban đầu chỉ là tên của một bến sông và không được dùng chính thức trong các tên gọi đơn vị hành chính. Từ năm 2004, Ninh Kiều chính thức trở thành tên một quận thuộc thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương. Hiện nay, trung tâm hành chính quận Ninh Kiều được đặt ở phường Tân An, nơi có địa điểm du lịch nổi tiếng: Bến Ninh Kiều.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn quận có 13 Phường:

Nguồn gốc địa danh[sửa | sửa mã nguồn]

Đại lộ Hòa Bình trên địa bàn quận Ninh Kiều

Trận Ninh Kiều là một trận thắng lẫy lừng của nghĩa quân Lam Sơn diễn ra năm 1426, còn gọi là trận Chúc Động. Ninh Kiều là chiếc cầu bắc qua sông Ninh Giang (sông Đáy), khi quân Minh tháo chạy qua sông, nghĩa quân Lam Sơn đã tập kích và chặt đứt cầu, quân Minh chết đuối làm nghẽn cả một khúc sông. Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi có nhắc đến sự kiện này trong câu:

Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm

Ninh Kiều ngày ấy nay là thị trấn Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

Năm 1957, Tỉnh trưởng tỉnh Phong Dinh (tên gọi khác của tỉnh Cần Thơ trong giai đoạn 1956-1975) thời Đệ nhất Cộng Hoà của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, ông Đỗ Văn Chước đã cho lập nơi bến sông này một công viên cây kiểng và bến dạo mát.

Do đề xuất của ông Ngô Văn Tâm, Trưởng ty Nông Nghiệp, đồng thời phụ trách đoàn Thanh Niên 4T (tức Khuyến Nông), ông Đỗ Văn Chước đã đệ trình lên Tổng Thống Ngô Đình Diệm xin đặt tên công viên và bến là Ninh Kiều. Ông đã dựa vào lịch sử Việt Nam, lấy tên một địa danh lịch sử chiến thắng quân Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi thống lãnh. Trận đánh diễn ra vào ngày 12 tháng 8 năm Bính Ngọ (tức ngày 13 tháng 9 năm 1426), khi nghĩa quân Lam Sơn tiến quân ra Bắc, Đô Bí Lý Triển và Trịnh Khả mai phục giặc ở Ninh Kiều và đã chiến thắng hoàn toàn, tiêu diệt trên 2000 quân Minh. Tướng giặc là Trần Trí phải tháo chạy về Đông Quan (Hà Nội ngày nay) chờ quân cứu viện..

Ngày 4 tháng 8 năm 1958, ông Lâm Lễ Trinh, người quê quán Cái Răng (Cần Thơ), Bộ Trưởng Nội Vụ thời Đệ nhất Cộng Hoà, đã từ Sài Gòn xuống Cần Thơ dự lễ cắt băng khánh thành, đọc Nghị định đặt tên công viên và bến Ninh Kiều theo đề nghị của ông Đỗ Văn Chước. Đến nay, quanh khu vực bến được đổi tên thành quận Ninh Kiều. Bến Ninh Kiều trở thành một điểm nhấn du lịch của Cần Thơ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm thương mại Cái Khế ở quận Ninh Kiều

Trước năm 2004[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Pháp thuộc, vùng đất quận Ninh Kiều ngày nay tương ứng với làng Tân An, làng Thới Bình cùng thuộc tổng Định Bảo, quận Châu Thành, tỉnh Cần Thơ. Sau này, chính quyền thực dân Pháp cho giải thể làng Thới Bình và sáp nhập vào địa bàn làng Tân An. Bên cạnh đó, về sau làng An Bình cũng được thành lập do tách đất từ làng Tân An.

Sau năm 1956, các làng gọi là xã. Vào thời Việt Nam Cộng hòa, trong giai đoạn 1956-1970, xã Tân An và xã An Bình thuộc tổng Định Bảo, quận Châu Thành, tỉnh Phong Dinh (sau năm 1956 chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tên thành tỉnh Phong Dinh, còn phía chính quyền Cách mạng vẫn giữ nguyên tên gọi tỉnh Cần Thơ như cũ). Sau năm 1965, cấp tổng bị bãi bỏ, các xã trực thuộc quận.

Đến ngày 30 tháng 9 năm 1970, theo Sắc lệnh số 115-SL/NV của Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa Trần Thiện Khiêm, thị xã Cần Thơ được chính thức tái lập và là thị xã tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương Việt Nam Cộng hòa, đồng thời kiêm tỉnh lỵ tỉnh Phong Dinh. Khi đó, thị xã bao gồm các xã Tân An, Thuận Đức, ấp Lợi Nguyên thuộc xã An Bình và ấp Bình Nhựt thuộc xã Long Tuyền cùng thuộc quận Châu Thành, tỉnh Phong Dinh trước đó.

Thị xã Cần Thơ khi đó gồm hai quận:

  • Quận 1 (quận Nhứt) gồm năm phường: An Lạc, An Cư, An Nghiệp, An Hòa, An Thới.
  • Quận 2 (quận Nhì) gồm ba phường: Hưng Lợi, Hưng Phú, Hưng Thạnh.

Như vậy, ngoại trừ các phường Hưng Phú, Hưng Thạnh thuộc quận Cái Răng và phường An Thới thuộc quận Bình Thủy ngày nay, các phường còn lại của quận 1 (quận Nhứt) và quận 2 (quận Nhì) khi đó đều thuộc địa bàn quận Ninh Kiều ngày nay. Đơn vị hành chính bên dưới trực thuộc phường là các khóm.

Tháng 8 năm 1972, Thường vụ Khu ủy Khu 9 của phía chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt NamViệt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định hình thành thành phố Cần Thơ trực thuộc Khu 9, là đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng với tỉnh Cần Thơ. Đồng thời, chính quyền Cách mạng vẫn duy trì các đơn vị hành chính cấp quận, phường và khóm bên dưới giống như phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho đến đầu năm 1976. Sau năm 1975, chính quyền Cách mạng cho thành lập mới phường Cái Khế trên cơ sở tách đất từ phường An Hòa.

Theo Nghị định số 03/NĐ-76 ngày 24 tháng 2 năm 1976 và Quyết định số 17/QĐ-76 ngày 24 tháng 3 năm 1976, Chính phủ Việt Nam quyết định hợp nhất ba đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng nhau là tỉnh Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ để thành lập tỉnh mới với tên gọi là tỉnh Hậu Giang. Đồng thời, quận 1 (quận Nhứt) và quận 2 (quận Nhì) cũng bị giải thể, các phường xã trực thuộc thành phố do thành phố Cần Thơ lúc này chuyển thành thành phố cấp huyện, trực thuộc tỉnh Hậu Giang.

Ngày 21 tháng 4 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 174-CP[2] về việc chia một số phường xã thuộc thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang. Lúc này vùng đất quận Ninh Kiều ngày nay có những thay đổi như sau:

  • Chia phường An Lạc thành hai phường lấy tên là phường Tân An và phường An Lạc.
  • Chia phường An Cư thành hai phường lấy tên là phường An Hội và phường An Cư.
  • Chia phường An Nghiệp thành hai phường lấy tên là phường An Phú và phường An Nghiệp.
  • Sáp nhập khóm 1 của phường An Hòa vào phường Cái Khế.
  • Chia phường Cái Khế thành hai phường lấy tên là phường Thới Bình và phường Cái Khế.
  • Chia phường Hưng Lợi thành hai phường lấy tên là phường Xuân Khánh và phường Hưng Lợi.

Ngày 26 tháng 12 năm 1991, Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết chia tỉnh Hậu Giang thành tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng. Thành phố Cần Thơ khi đó đóng vai trò là tỉnh lỵ tỉnh Cần Thơ cho đến cuối năm 2003.

Từ năm 2004 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc Hội Việt Nam thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11, về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Theo đó, chia tỉnh Cần Thơ thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang.

Ngày 02 tháng 01 năm 2004, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 05/2004/NĐ-CP[3] về việc thành lập các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, các huyện Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thốt Nốt và các xã, phường, thị trấn thuộc thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương. Nội dung về việc thành lập quận Ninh Kiều và các phường trực thuộc theo Nghị định như sau:

  • Thành lập quận Ninh Kiều trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các phường: Cái Khế, An Hòa, Thới Bình, An Nghiệp, An Cư, An Hội, Tân An, An Lạc, An Phú, Xuân Khánh, Hưng Lợi và xã An Bình (thuộc thành phố Cần Thơ cũ).
  • Thành lập phường An Bình thuộc quận Ninh Kiều trên cơ sở toàn bộ 1.193,17 ha diện tích tự nhiên và 18.906 nhân khẩu của xã An Bình.

Quận Ninh Kiều có 2.922,04 ha diện tích tự nhiên và 206.213 nhân khẩu; có 12 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường: Cái Khế, An Hoà, Thới Bình, An Nghiệp, An Cư, An Hội, Tân An, An Lạc, An Phú, Xuân Khánh, Hưng Lợi và An Bình.

Ngày 16 tháng 01 năm 2007, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 11/2007/NĐ-CP[4] về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường; thành lập phường, thị trấn thuộc các quận Ninh Kiều, Ô Môn và các huyện Phong Điền, Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Theo đó, thành lập phường An Khánh thuộc quận Ninh Kiều trên cơ sở điều chỉnh 441 ha diện tích tự nhiên và 7.731 nhân khẩu của phường An Bình. Phường An Khánh có 441 ha diện tích tự nhiên và 7.731 nhân khẩu.

Quận Ninh Kiều có 2.922,57 ha diện tích tự nhiên và 209.274 nhân khẩu, có 13 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường: Cái Khế, An Hội, An Cư, Thới Bình, An Hoà, An Nghiệp, An Phú, Tân An, An Lạc, Xuân Khánh, Hưng Lợi, An Bình và An Khánh.

Các tuyến đường chính trên địa bàn[sửa | sửa mã nguồn]

Bến phà Cồn Khương, nối bờ Ninh Kiều (TP Cần Thơ) với bờ Cái Vồn (thị xã Bình Minh, Vĩnh Long).
  • Trần Phú
  • Hùng Vương
  • Trần Hưng Đạo
  • 3 tháng 2
  • 30 tháng 4
  • Hòa Bình
  • Nguyễn Trãi
  • Cách Mạng Tháng 8 (quốc lộ 91)
  • Nguyễn Văn Linh (quốc lộ 91B)
  • Nguyễn Văn Cừ
  • Vòng Cung (tỉnh lộ 923)
  • Mậu Thân
  • Lý Tự Trọng
  • Trần Văn Hoài
  • Quang Trung
  • Hai Bà Trưng
  • Nguyễn Thị Minh Khai
  • Phan Đình Phùng
  • Nguyễn Thái Học - Võ Văn Tần (tuyến đường đôi)
  • Nguyễn An Ninh - Châu Văn Liêm (tuyến đường đôi)
  • Trần Văn Khéo
  • Lê Lợi

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Một số công trình nằm trên địa bàn quận Ninh Kiều:

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]