Nobuta wo Produce

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nobuta wo Produce
Nobuta. O Purodyūsu
野ブタ。をプロデュース

Bìa CD OST của Nobuta wo Produce
Thể loại phim truyền hình
Diễn viên Kamenashi Katzuya, Yamashita Tomohisa, Horikita Maki
Nhạc kết Seishun Amigo của Shūji to Akira
Quốc gia  Nhật Bản
Ngôn ngữ tiếng Nhật
Số tập 10
Trình chiếu
Kênh trình chiếu NTV
Phát sóng 15-10-2005 – 17-12-2005
Liên kết ngoài
Trang mạng chính thức

Nobuta wo Produce (tiếng Nhật: 野ブタ。をプロデュース|Nobuta. O Purodyūsu) là bộ phim truyền hình Nhật Bản, được sản xuất và phát sóng năm 2005 trên kênh truyền hình NTV. Phim được chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của tác giả Shiraiwa Gen. Với bối cảnh xảy ra trong ngôi trường trung học, câu chuyện xoay quanh việc hai cậu học sinh Shuji và Akira với ý định "produce" - lăng xê cô bạn cùng lớp nhút nhát Nobuko trở thành người nổi tiếng nhất trường.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Giới thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Kiritani Shuji (Kamenashi Kazuya) là một học sinh trung học rất nổi tiếng trong trường, có bạn gái là Uehara Mariko(Toda Erika), cũng là cô gái nổi tiếng nhất trường. Akira Kusano (Yamashita Tomohisa), bạn học của cậu, không có nổi một người bạn - có điều gì đó khiến cậu không thể hòa nhập chung với mọi người. Một ngày nọ, một cô gái vô cùng nhút nhát, Kotani (Horikita Maki) chuyển đến ngôi trường ấy và gần như ngay lập tức, cô bị lũ con gái cùng lớp tẩy chay vì quá nhút nhát. Với lòng nhiệt tình của tuổi trẻ, Shuji và Akira lập thành nhóm với quyết tâm "produce" Nobuko, giúp cô trở nên nổi tiếng. Họ đặt biệt danh cho cô là "Nobuta".

Giúp Nobuta nổi tiếng - "produce"[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi tập phim đều thể hiện những nỗ lực để Nobuta có thể nổi tiếng. Nhưng song song đó, tồn tại một nhân vật bí ẩn luôn phá hoại những cố gắng của Shuji và Akira. Bộ ba ấy, rất may mắn, luôn khéo léo tìm cách xoay chuyển được tình hình.

Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim xoay quanh ba nhân vật trung tâm: Shuji, Akira và Nobuko.

Kiritani Shuji[sửa | sửa mã nguồn]

Shuji (桐谷修二) xem cuộc sống như một trò chơi, sống với những lời nói dối vô thưởng vô phạt. Cậu tin rằng, nếu luôn giữ vẻ "phong độ", cậu sẽ đạt được mục đích mà không bị tổn thương. Bằng cách lựa chọn luôn che giấu cảm xúc thật của bản thân, sâu thẳm trong tâm hồn Shuji là nỗi cô đơn thật sự. Mặc dù không thích mối quan hệ với Mariko, cậu vẫn cùng ăn trưa hàng ngày với cô chỉ vì muốn người khác nghĩ rằng mình có một người bạn gái tuyệt vời. Cậu chỉ mở lòng mình với Akira và Nobuko, xem họ là những người bạn thân thiết nhất. Luôn để tâm đến cảm nhận của người khác, Shuji không thể nói "Không" với bất kỳ ai. Cậu luôn che đậy cảm xúc và không bao giờ phàn nàn chuyện gì.

Kusano Akira[sửa | sửa mã nguồn]

Trái ngược với Shuji, Akira (草野彰) hoàn toàn không nổi tiếng. Ban đầu sự vô tư và những hành động có phần ngốc nghếch của cậu khiến Shuji khó chịu và luôn tìm cách tránh né cậu. Ngược lại, Akira luôn bám lấy Shuji và tự coi mình là bạn thân nhất của Shuji. Tình bạn của họ chỉ thật sự bắt đầu khi cả hai quyết định hợp tác lăng xê Nobuta. Vì khả năng tài chính dồi dào của gia đình, Akira đầu tư hầu hết các kế hoạch của họ. Không quan tâm đến việc thừa kế công ty mà bố của cậu là chủ tịch, Akira, với một tinh thần thích bay nhảy, thích một cuộc sống tự do tùy tiện và tận hưởng tuổi trẻ của mình. Trong phim, Akira tỏ ra có tình cảm đặc biệt với Nobuta, nhưng cậu không muốn theo đuổi thứ tình cảm ấy vì cho rằng mình không đủ khả năng mang lại hạnh phúc cho cô. Với bản tính vị tha, cậu sẵn sàng chia sẻ và tha thứ mọi chuyện nếu như điều ấy bảo vệ được tình bạn của cậu với Shuji và Nobuta.

Kotani Nobuko[sửa | sửa mã nguồn]

Nobuko (小谷信子) luôn đau buồn và nhút nhát vì bị người cha dượng xua đuổi từ khi còn bé. Chuyện đó tiếp diễn trong quãng đời học sinh khi cô gặp khó khăn trong việc kết bạn và bị các học sinh khác trêu chọc, tẩy chay. Bởi những kinh nghiệm xót xa ấy, cô trở nên hoài nghi với thế giới. Cô tin rằng dù đang ở đâu, dù bản thân có cố gắng cách mấy, mọi người vẫn không chấp nhận cô. Với sự động viên và giúp đỡ của Shuji và Akira, cô dần hé mở tâm hồn mình. Đối với Nobuko, Shuji và Akira là hai người quan trọng nhất thế gian. Ở đoạn kết của phim, cuối cùng cô cũng có thể vững tin mỉm cười và gia nhập với xã hội, dù không còn Shuji và Akira bên cạnh.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Đội ngũ làm phim[sửa | sửa mã nguồn]

Các tập phim[sửa | sửa mã nguồn]

Tên
Theo romaji
Ngày phát sóng
Ratings
Ep. 1
いじめられっこ転校生を人気者に
Ijimerarekko tenkousei wo ninkimono ni
15 tháng 10, 2005
16.1%
Ep. 2
(秘)キレイ大作戦
Kirei taisakusen
22 tháng 10, 2005
14.9%
Ep. 3
恐怖の文化祭
Kyoufu no bunkasai
29 tháng 10, 2005
17.0%
Ep. 4
恋の告白作戦
Koi no kokuhaku sakusen
5 tháng 11, 2005
16.4%
Ep. 5
悪夢のデート
Akumu no deeto
12 tháng 11, 2005
17.1%
Ep. 6
親と子の青春
Oya to ko no seishun
19 tháng 11, 2005
17.7%
Ep. 7
女を泣かす男
Onna wo nakasu otoko
26 tháng 11, 2005
16.7%
Ep. 8
いじめの正体
Ijime no shoutai
3 tháng 12, 2005
18.0%
Ep. 9
別れても友達
Wakarete mo tomodachi
10 tháng 12, 2005
16.8%
Ep. 10
青春アミーゴ
Seishun amiigo
17 tháng 12, 2005
18.2%

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng hàn lâm của truyền hình Nhật Bản lần thứ 47
  • Phim xuất sắc nhất
  • Diễn viên nam chính xuất sắc nhất: Kazuya Kamenashi
  • Diễn viên nữ phụ xuất sắc nhất: Maki Horikita
  • Đạo diễn xuất sắc nhất
  • Kịch bản hay nhất
  • Âm nhạc hay nhất
Giải thưởng phim ảnh Nikkan Sports lần thứ 10 (năm 2006)

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc nền của phim là tác phẩm Seishun Amigo được trình bày bởi Shūji to Akira, một nhóm nhạc đặc biệt gồm hai thành viên Kazuya Kamenashi và Tomohisa Yamashita, được đặt tên dựa theo nhân vật của họ trong phim. Bài hát đứng đầu bảng xếp hạng Oricon năm 2005, bán được 1 triệu bản và được biết đến như là single thành công nhất của năm. [cần dẫn nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]