Nogizaka Haruka no Himitsu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nogizaka Haruka no Himitsu
Nogizaka Haruka no Himitsu DVD boxset cover.jpg
乃木坂春香の秘密
Thể loại Lãng mạn, hài hước
Light novel
Tác giả Igarashi Yūsaku
Minh họa Shaa
Nhà xuất bản ASCII Media Works
Đối tượng Nam
Ấn hiệu Dengeki Bunko
Phát hành Ngày 10 tháng 10 năm 2004Ngày 10 tháng 7 năm 2012
Số tập 16
Manga
Tác giả Igarashi Yūsaku
Minh họa Miyama Yasuhiro
Nhà xuất bản ASCII Media Works
Đối tượng Seinen
Tạp chí Dengeki Moeoh
Phát hành Tháng 10 năm 2006Tháng 8 năm 2010
Số tập 4
TV anime
Đạo diễn Nawa Munenori
Hãng phim Studio Barcelona
Cấp phép Trung Hoa Dân Quốc Mighty Media
Kênh Chiba TV, AT-X, Chukyo TV, TV Kanagawa, TV Saitama, Yomiuri TV
Phát sóng Ngày 03 tháng 7 năm 2008Ngày 25 tháng 9 năm 2008
Số tập 12
Trò chơi
Nogizaka Haruka no Himitsu: Hajimemashita
Phát triển Vridge
Phát hành ASCII Media Works
Thể loại Visual novel
Phân hạng CERO: C (15+)
Hệ máy PlayStation 2
Phát hành Ngày 25 tháng 9 năm 2008
TV anime
Nogizaka Haruka no Himitsu Purezza♪
Đạo diễn Nawa Munenori
Hãng phim Studio Barcelona
Phát sóng Ngày 06 tháng 10 năm 2009Ngày 22 tháng 12 năm 2009
Số tập 12
Trò chơi
Nogizaka Haruka no Himitsu: Dōjinshi Hajimemashita
Phát triển Vridge
Phát hành ASCII Media Works
Thể loại Visual novel
Phân hạng CERO: B (12+)
Hệ máy PlayStation Portable
Phát hành Ngày 26 tháng 2 năm 2010
OVA
Nogizaka Haruka no Himitsu Finale♪
Đạo diễn Nawa Munenori
Hãng phim Studio Barcelona
Phát hành Ngày 20 tháng 8 năm 2012Ngày 25 tháng 11 năm 2012
Số tập 4
Biểu tượng chủ đề Chủ đề Anime và Manga

Nogizaka Haruka no Himitsu (乃木坂春香の秘密) là loạt light novel do Igarashi Yūsaku thực hiện và Shaa minh họa. Tiểu thuyết ban đầu được đăng trên tại chí Dengeki hp của MediaWorks vào ngày 18 tháng 6 năm 2004. Sau đó phát hành thành các bunkobon từ ngày 10 tháng 10 năm 2004 đến ngày 10 tháng 7 năm 2012. Cốt truyện xoay quanh hai người bạn là Ayase Yūto và Nogizaka Haruka, Yūto là một nam sinh trung học bình thường còn Haruka là một nữ sinh xinh đẹp, thông minh và giàu có được mến mộ. Cả hai vô tình gặp nhau trong thư viện và Yūto biết sở thích bí mật của Haruka là cô rất thích xem animemanga cũng như là một otaku, Yūto hứa giữ bí mật việc này với Haruka và cả hai trở thành bạn cũng như qua thời gian và cùng vượt qua các sự kiện tình cảm bắt đầu nảy sinh giữa hai người.

Tiểu thuyết đã được chuyển thể thành các phương tiện truyền thông khác. Miyama Yasuhiro đã thực hiện chuyển thể manga của loạt tiểu thuyết và đăng trên tạp chí Dengeki Moeoh từ tháng 10 năm 2006 đến tháng 8 năm 2010. Studio Barcelona thì thực hiện hai bộ chuyển thể anime, bộ đầu tiên phát sóng từ ngày 03 tháng 7 đến ngày 25 tháng 9 năm 2008, bộ thứ hai có tựa Nogizaka Haruka no Himitsu: Purezza phát óng từ ngày 06 tháng 10 đến ngày 22 tháng 12 năm 2009, ngoài ra hãng cũng thực hiện một bộ OVA gồm 4 tập phát hành trong 4 tháng từ ngày 20 tháng 8 đến ngày 25 tháng 11 năm 2012. Hãng Vridge thì phát triển hai chuyển thể visual novel của tiểu thuyết và ASCII Media Works phát hành.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Sơ lược cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Chính[sửa | sửa mã nguồn]

Ayase Yūto (綾瀬 裕人, あやせ ゆうと)
Lồng tiếng bởi: Hatano Wataru, Nabatame hitomi (lúc nhỏ)
Nogizaka Haruka (乃木坂 春香, のぎざか はるか)
Lồng tiếng bởi: Noto Mamiko
Amamiya Shiina (天宮 椎菜, あまみや しいな)
Lồng tiếng bởi: Satō Rina
Nogizaka Mika (乃木坂 美夏, のぎざか みか)
Lồng tiếng bởi: Goto Mai

Nhà Nogizaka[sửa | sửa mã nguồn]

Nogizaka Gentō (乃木坂 玄冬, のぎざか げんとう)
Lồng tiếng bởi: Tachiki Fumihiko
Nogizaka Akiho (乃木坂 秋穂, のぎざか あきほ)
Lồng tiếng bởi: Hisakawa Aya
Nogizaka Ōki (乃木坂 王季, のぎざか おうき)
Lồng tiếng bởi: Naya Rokurō
Heizō・Sebastian・Sakurazaka (平蔵・セバスチャン・桜坂, へいぞう・セバスチャン・さくらざか)

Người giúp việc nhà Nogizaka[sửa | sửa mã nguồn]

Sakurazaka Hazuki (桜坂 葉月, さくらざか はづき)
Lồng tiếng bởi: Shimizu Kaori
Sakurazaka Yōko (桜坂 葉子, さくらざか ようこ)
Nanashiro Nanami (七城 那波, ななしろ ななみ)
Lồng tiếng bởi: Ueda Kana
Kusumoto Minamo (楠本 水面, くすもと みなも)
Lồng tiếng bởi: Mizuhara Kaoru
Yukinohara Maria (雪野原 鞠愛, ゆきのはら まりあ)
Lồng tiếng bởi: Takamoto Megumi
Nagikawa Koayu (凪川 小鮎, なぎかわ こあゆ)
Lồng tiếng bởi: Igarashi Hiromi
Rokujō Ayame (六条 菖蒲, ろくじょう あやめ)
Lồng tiếng bởi: Moriya Satomi
Rokujō Sara (六条 沙羅, ろくじょう さら)
Lồng tiếng bởi: Ishikawa Momoko
Rokujō Juri (六条 樹里, ろくじょう じゅり)
Lồng tiếng bởi: Yahagi Sayuri
Arisutia=Rein (アリスティア=レイン)
Lồng tiếng bởi: Kugimiya Rie
Munakata Rio (宗像 理緒, むなかた りお)
Lồng tiếng bởi: Iguchi Yuka
Hinasaki Iwai (雛咲 祝, ひなさき いわい)
Lồng tiếng bởi: Hikasa Yōko
Adachigahara-mei(安達ヶ原 芽衣, あだちがはら めい)

Nhà Ayase[sửa | sửa mã nguồn]

Ayase Ruko (綾瀬 ルコ, あやせ ルコ)
Lồng tiếng bởi: Nabatame Hitomi
Ayase Kunisada (綾瀬 国貞, あやせ くにさだ)
Ayase Ruriko (綾瀬 瑠璃子, あやせ るりこ)

Trong trường[sửa | sửa mã nguồn]

Kamishiro Yukari (上代 由香里, かみしろ ゆかり)
Lồng tiếng bởi: Matsuki Miyu
Asakura Nobunaga (朝倉 信長, あさくら のぶなが)
Lồng tiếng bởi: Takagi Reiko
Nagai (永井, ながい)
Lồng tiếng bởi: Miyashita Eiji
Takenami (竹浪, たけなみ)
Lồng tiếng bởi: Yasumoto Hiroki
Ogawa (小川, おがわ)
Lồng tiếng bởi: Ōsuka Jun
Asahina Mai (朝比奈 麻衣, あさひな まい)
Lồng tiếng bởi: Toyosaki Aki
Sawamura Ryōko (澤村 良子, さわむら りょうこ)
Lồng tiếng bởi: Kitamura Eri
Sendai Keiji (千代 啓二, せんだい けいじ)
Lồng tiếng bởi: Asanuma Shintarō
Yatsusaki Setsuna (八咲 せつな, やつさき せつな)
Lồng tiếng bởi: Hanazawa Kana
Tennōji Tōka (天王寺 冬華, てんのうじ とうか)
Lồng tiếng bởi: Kugimiya Rie
Sawakita Sachiko (澤北 幸子, さわきた さちこ)
Sasaoka Shūto (佐々岡 修斗, ささおか しゅうと)
Ogasawara Takashi (小笠原 孝, おがさわら たかし)
Lồng tiếng bởi: Majima Junji
Sumitomo Miya (住友 美弥, すみとも みや)
Orikawa Tomoe (織川 巴, おりかわ ともえ)
Imperial・Guard (インペリアル・ガード)
Tanabe Shigeo (田鍋 繁夫, たなべ しげお)

Nhà Tennōji[sửa | sửa mã nguồn]

Koinugawa Mudō (小犬川 無道, こいぬがわ むどう)
Lồng tiếng bởi: Kibe Kimiyoshi
Tennōji Tenzen (天王寺 天膳, てんのうじ てんぜん)
Tennōji Setsugetsuka (天王寺 雪月花, てんのうじ せつげつか)
Lồng tiếng bởi: Uchiyama Yumi

Trường của Mika[sửa | sửa mã nguồn]

Tōgasaki Eri (塔ヶ崎 エリ, とうがさき エリ)
Lồng tiếng bởi: Toyosaki Aki
Hatsuse Hikaru (初瀬 光, はつせ ひかり)
Lồng tiếng bởi: Yūki Aoi
Fujinomiya Miu (藤ノ宮 美羽, ふじのみや みう)
Lồng tiếng bởi: Hidaka Rina
Ōoku Madoka (大奥 まどか, おおおく まどか)
Lồng tiếng bởi: Adachi Tomo
Futaba Jogakuin no Keibīn (双葉女学院の警備員)

Hãng Three Piece Productions[sửa | sửa mã nguồn]

Himemiya Miran (姫宮 みらん, ひめみや みらん)
Lồng tiếng bởi: Nabatame Hitomi
Kayahara Yayoi (茅原 弥生, かやはら やよい)
Lồng tiếng bởi: Hikasa Yōko
Kobayakawa Nozomi (小早川 希美, こばやかわ のぞみ)
Lồng tiếng bởi: Kikuchi Kokoro
Iwaki Tsukasa (岩城 つかさ, いわき つかさ)
Nonowara Nono (野乃原 野乃, ののはら のの)

Quán trọ nhà Nanashiro[sửa | sửa mã nguồn]

Nanashiro Nanase (七城 那奈瀬, ななしろ ななせ)
Lồng tiếng bởi: Sakurai Tomo
Yachiyo Hina (八千代 日菜, やちよ ひな)
Lồng tiếng bởi: Nakahara Mai

Nhà Amamiya[sửa | sửa mã nguồn]

Amamiya Yoshiyuki (天宮 好幸, あまみや よしゆき)
Amamiya Yurie (天宮 百合恵, あまみや ゆりえ)
Amamiya Yūri (天宮 悠里, あまみや ゆうり)
Amamiya Kōichi (天宮 幸一, あまみや こういち)
Amamiya Mitsuba (天宮 三葉, あまみや みつば)
Amamiya Yoshio (天宮 義男, あまみや よしお)
Amamiya Nanako (天宮 菜々子, あまみや ななこ)
Shiina no sofu (椎菜の祖父)

Nocturne Jogakuin Lacrosse[sửa | sửa mã nguồn]

Haruna (春琉奈, はるな)
Lồng tiếng bởi: Noto Mamiko
Miruka (美瑠夏, みるか)
Lồng tiếng bởi: Gotō Mai
Kuzuwa (樟葉, くずは)
Lồng tiếng bởi: Shimizu Kaori
Nanao (那奈緒, ななお)
Lồng tiếng bởi: Ueda Kana
Shīno (椎乃, しいの)
Lồng tiếng bởi: Satō Rina
Mizuki sensei (みずき先生)
Lồng tiếng bởi: Inoue Kikuko
Bach sensei (バッハ先生)
Emmanuel (エマヌエル)
Lồng tiếng bởi: Hatano Wataru
Yūki (裕樹, ゆうき)
Lồng tiếng bởi: Hatano Wataru
Alias (アリアス)
Lồng tiếng bởi: Kugimiya Rie

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Asakura Mahiro (朝倉 真尋, あさくら まひろ)
Shute Sutherland (シュート・サザーランド)
Lồng tiếng bởi: Majima Junji
Connelly Sutherland (コネリー・サザーランド)
Lồng tiếng bởi: Taniguchi Takashi
Kitakaze Minami (北風 美南, きたかぜ みなみ)
Takamagahara Sayo (高天原 小夜, たかまがはら さよ)
Toyohira Misato (豊平 美郷, とよひら みさと)
Ichinose Hana (市ノ瀬 華, いちのせ はな)
Tateno Maiwa (立野 舞葉, たての まいは)
Narayama Yoshika (平城山 芳香, ならやま よしか)
Lồng tiếng bởi: Sakura Ayane
Kashiwabara Yuka (柏原 有佳, かしわばら ゆか)
Lồng tiếng bởi: Seto Asami
Yamatokoizumi Momoka (大和小泉 桃花, やまとこいずみ ももか)
Lồng tiếng bởi: Taneda Risa

Chỉ nhắc đến hay xuất hiện thoáng qua[sửa | sửa mã nguồn]

Dojikko Aki-chan (ドジっ娘アキちゃん)
Lồng tiếng bởi: Matsuki Miyu
Damemmusume Megu-chan (ダメっ娘メグちゃん)
Ken-kun (ケンくん)
Princess Nao-chan (プリンセスナオちゃん)

Nhân vật có thật[sửa | sửa mã nguồn]

Shaa (しゃあ)
Noto Mamiko (能登 麻美子, のと まみこ)
Lồng tiếng bởi: Noto Mamiko
Gotō Mai (後藤 麻衣, ごとう まい)
Lồng tiếng bởi: Gotō Mai
Shimizu Kaori (清水 香里, しみず かおり)
Lồng tiếng bởi: Shimizu Kaori
Ueda Kana (植田 佳奈, うえだ かな)
Lồng tiếng bởi: Ueda Kana
Satō Rina (佐藤 利奈, さとう りな)
Lồng tiếng bởi: Satō Rina
Matsukimi Yu (松来 未祐, まつき みゆ)
Pollini (ポリーニ)
Igarashi Yūsaku (五十嵐 雄策, いがらし ゆうさく)
Lồng tiếng bởi: Igarashi Yūsaku

Trò chơi điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Otaru Rio (小樽 利緒, おたる りお)
Lồng tiếng bởi: Iguchi Yuka
Fukayama Ayane (深山 彩音, ふかやま あやね)
Lồng tiếng bởi: Kugimiya Rie
Hasebe Hayato (長谷部 隼人, はせべ はやと)
Lồng tiếng bởi: Chiba Susumu
Hasebe Shunji (長谷部 俊治, はせべ しゅんじ)
Lồng tiếng bởi: Chiba Susumu

Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Light novel[sửa | sửa mã nguồn]

Loạt light novel do Igarashi Yūsaku thực hiện và Shaa minh họa. Tiểu thuyết ban đầu được đăng thử trên tại chí Dengeki hp của MediaWorks từ ngày 18 tháng 6 năm 2004. Sau đó ASCII Media Works đã tiến hành tập hợp các chương lại và phát hành thành các bunkobon dưới nhãn Dengeki Bunko từ ngày 10 tháng 10 năm 2004 và tập cuối phát hành vào ngày 10 tháng 7 năm 2012 với 16 tập.

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Miyama Yasuhiro đã thực hiện chuyển thể manga của loạt tiểu thuyết và đăng trên tạp chí manga dành cho seinenDengeki Moeoh từ tháng 10 năm 2006 đến tháng 8 năm 2010 với 24 chương. ASCII Media Works cũng đã tập hợp các chương lại và phát hành thành 4 tankōbon với nhãn Dengeki Comics.

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

ASCII Media Works đã phát hành một quyển sách hướng dẫn có tên Nogizaka Haruka Gazente (乃木坂春香ガ全テ) vào ngày 20 tháng 11 năm 2009. Sách có các thông tin chưa từng được giới thiệu của các nhân vật, một số mẫu truyện ngắn cùng các hình ảnh.

Radio Internet[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình phát thanh trên mạng có tựa Nogizaka Mika no Mai Fair Radio! (乃木坂美夏の麻衣ふぇあれいでぃお!) đã được thực hiện và phát từ ngày 11 tháng 4 năm 2008 đến ngày 27 tháng 2 năm 2009 trên trang mạng của bộ anime tổng cộng 48 chương trình với 44 chương trình bình thường và 4 chương trình đặc biệt. Sau đó là chương trình có tựa Nogizaka Mika no Mai Fair Radio! Nekusuto~tsu!! (乃木坂美夏の麻衣ふぇあれいでぃお! ねくすとっ!!) cũng đã được thực hiện và phát từ ngày 06 tháng 3 năm 2009 đến ngày 30 tháng 4 năm 2010 trên trang mạng của bộ anime tổng cộng 47 chương trình.

Hai chương trình này có mục đích giống nhau là hỗ trợ cho hai bộ anime tương ứng, trò chuyện với các nhân vật như khách mời của cả anime và trò chơi điện tử cùng một số chương trình drama...

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Studio Barcelona đã thực hiện hai chuyển thể anime của loạt tiểu thuyết và phát sóng phát sóng từ ngày 03 tháng 7 đến ngày 25 tháng 9 năm 2008 tại Nhật Bản với 12 tập trên kênh TV Kanagawa và Chiba TV, sau đó là các kênh TV Saitama, Yomiuri Telecasting Corporation, Chukyo TV và AT-X. Mighty Media đã đăng ký bản quyền phân phối tại Đài Loan.

Barcelona cũng thực hiện bộ anime thứ hai có tựa Nogizaka Haruka no Himitsu Purezza♪ (乃木坂春香の秘密 ぴゅあれっつぁ♪) và phát sóng từ ngày 06 tháng 10 đến ngày 22 tháng 12 năm 2009 với 12 tập trên kênh Tokyo MX và Yomiuri Telecasting Corporation, sau đó là AT-X và TV Kanagawa.

Ngoài ra hãng cũng thực hiện một bộ OVA có tựa Nogizaka Haruka no Himitsu Finale♪ (乃木坂春香の秘密 ふぃな~れ♪) gồm 4 tập phát hành trong 4 tháng, với 2 lần phát hành, mỗi lần phát hành hai tập từ ngày 20 tháng 8 đến ngày 25 tháng 11 năm 2012.

Trò chơi điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Vridge đã phát triển chuyển thể visual novel cho hệ PlayStation 2 có tựa Nogizaka Haruka no Himitsu: Hajimemashita (乃木坂春香の秘密 こすぷれ、はじめました♥) của tiểu thuyết và ASCII Media Works phát hành vào ngày 25 tháng 9 năm 2008. Trò chơi cho phép người chơi mặc các trang phục của các nhân vật trong các tác phẩm khác do ASCII Media Works phát hành như Shakugan no Shana, Ōkami to Kōshinryō, Toaru Majutsu no IndexCLANNAD.

Một trò chơi tập hợp nhiều tựa tác phẩm khác nhau có tựa Dengeki Gakuen RPG Cross of Venus (電撃学園RPG Cross of Venus) thuộc thể loại hành động nhập vai cho hệ Nintendo DS được thực hiện để phát hành trong buổi lễ kỷ niệm thứ 15 của Dengeki vào ngày 19 tháng 3 năm 2009. Các nhân vật nữ chính trong 8 tựa tác phẩm như Toaru Majutsu no Index, Shakugan no Shana‎... và tất nhiên trong đó có cả Nogizaka Haruka no Himitsu đều xuất hiện trong trò chơi cộng thêm hai nhân vật của chính trò chơi.

Vridge cũng đã phát triển một phiên bản nối tiếp nhưng cho hệ PlayStation Portable có tựa Nogizaka Haruka no Himitsu: Dōjinshi Hajimemashita (乃木坂春香の秘密 同人誌はじめました♥) phát hành vào ngày 26 tháng 2 năm 2010. ban đầu trò chơi chia thành 5 phần riêng biệt nhưng sau đó bản tổng hợp 5 phần này đã phát hành vào ngày 28 tháng 10 năm 2010.

Drama CD[sửa | sửa mã nguồn]

Geneon Universal Entertainment đã phát hành hai đĩa drama CD có tựa Nogizaka Haruka no Himitsu Drama CD (乃木坂春香の秘密ドラマCD) vào ngày 21 tháng 11 và 26 tháng 12 năm 2008. Hai đĩa mỗi đĩa chứa hai đoạn drama mới cùng một bài hát mới do các nhân vật trình bày.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ anime đầu có hai bài hát chủ đề, một mở đầu và một kết thúc. Bài hát mở đầu có tựa Tomadoi Bitter Tune được trình bày bởi Milan HimemiyaChocolate Rockers, bài hát kết thúc có tựa Hitosashiyubi Quiet! do nhóm N's trình bày, hai đĩa đơn chứa hai bài hát đã phát hành vào ngày 23 tháng 7 năm 2008. Album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime đầu đã phát hành vào ngày 26 tháng 9 năm 2008. Bốn album chưa các bài hát do các các nhân vật trình bày đã phát hành làm hai lần, mỗi lần hai album vào ngày 28 tháng 8 và ngày 26 tháng 9 năm 2008.

Bộ anime thứ hai cũng có hai bài hát chủ đề, một mở đầu và một kết thúc. Bài hát mở đầu có tựa Chōhatsu Cherry Heart (挑発 Cherry Heart) do Milan HimemiyaChocolate Rockers trình bày, bài hát kết thúc có tựa Himitsu Suishō! Uruto Love (秘密推奨!うるとLOVE) do nhóm N's trình bày, hai đĩa đơn chứa hai bài hát đã phát hành vào ngày 23 tháng 10 năm 2009. Ba album chứa các bài hát do các nhân vật trình bày đã phát hành vào ngày 26 tháng 11, ngày 23 tháng 12 năm 2009 và ngày 26 tháng 2 năm 2010. Ngoài ra các bài hát trong bộ anime do nhóm N's trình bày cũng được phát hành chung với hai album nhỏ chứa một số bài hát của nhóm.

Bộ OVA có hai bài hát chủ đề, một mở đầu và một kết thúc. Bài hát mở đầu có tên Happy End wa Himitsu (Himitsu Chu) (ハッピィエンドは秘密(ひみちゅ)), bài hát kết thúc có tên Bye Bye☆Daisakusen (バイバイ☆大作戦) cả hai đều do nhóm N's trình bày. Hai bài hát đã phát hành cùng một số đoạn drama trong đĩa đính kèm phiên bản giới hạn của hộp BD/DVD đầu của bộ OVA vào ngày 29 tháng 8 năm 2012.

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Mainichi Shimbun đã thông báo là tính đến tháng 1 năm 2008 thì 700.000 bản của bảy tập tiểu thuyết đầu đã được tiêu thụ.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]