Norwich City F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Norwich City)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Norwich City F.C.
Logo câu lạc bộ Norwich City
Tên đầy đủ Norwich City Football Club
Biệt danh The Canaries, The Citzens (trước năm 1907)
Thành lập 17 tháng 6, 1902; 112 năm trước[1]
Sân vận động Carrow Road,
Norwich
  — Sức chứa 27,033
Chủ tịch Alan Bowkett
Huấn luyện viên Neil Adams
Giải đấu Premier League
2012-13 Giải bóng đá ngoại hạng Anh, thứ 11
Web http://www.canaries.co.uk/
Sân nhà
Sân khách

Soccerball current event.svg Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Norwich City là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Anh có trụ sở tại Norwich, Norfolk. Mùa bóng 2012-13, Norwich kết thúc ở vị trí thứ 11.

Câu lạc bộ được thành lập vào ngày 17 tháng 6 năm 1902 và lần đầu tiên giành quyền thăng hạng nhất Anh (tức giải bóng đá Ngoại hạng Anh thời đó) vào mùa giải 1971-1972. Họ đã có 21 năm tham dự giải hạng nhất. Norwich đã giành chức vô địch League Cup hai lần, năm 1962 và năm 1985. Norwich là một trong những đội bóng đầu tiên tham dự giải Ngoại hạng Anh kể từ khi thành lập. Đội bóng kết thúc mùa giải ở vị trí thứ ba và thi đấu được ba mùa giải, được tham dự vòng loại thứ ba UEFA Cup. Tuy nhiên, Norwich City bị xuống hạng sáu mùa giải kể từ mùa giải 2005-06 và phải đến mùa 2011-12, họ mới trở lại giải Ngoại hạng.[2]

Từ năm 1935, sân nhà của Norwich City là sân vận động Carrow Road và kình địch lâu năm với đội bóng vùng Đông Anglian, Ipswich Town. Họ đã cạnh tranh với nhau 138 lần. Bài hát của người hâm mộ "On the Ball, City" được xem như là bài hát bóng đá lâu đời nhất trên thế giới.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sân vận động Carrow Road của thành phố Norwich

Câu lạc bộ được thành lập tại quán cà phê Criterion của thành phố Norwich vào ngày 17 tháng 6 năm 1902. Sau đó, đội mở một cuộc họp phụ vào ngày 2 tháng 7 năm 1902 bởi ba cựu cầu thủ Norwich CEYMS, Robert Webster, Joseph Cowper và Brad Skelly[1] [4] và chơi trận đấu chính thức đầu tiên của mình với Harwich & Parkeston, tại sân Newmarket Road vào ngày 6 tháng 9 năm 1902.[5] Câu lạc bộ chuyển sang thi đấu chuyên nghiệp vào năm 1905. Cuối năm 1905 đội tham gia chơi ở giải địa phương và vì số cổ động viên ngày càng tăng, câu lạc bộ đã phải rời khỏi sân Newmarket Road vào năm 1908, chuyển đến sân The Nest, một sân bị bỏ hoang. Biệt danh ban đầu của câu lạc bộ là Citizens, sau đến năm 1907 thì được đổi biệt danh thành Canaries bởi chủ tịch của câu lạc bộ (vốn là một người yêu thích chim hoàng yến) gọi con trai của mình là "The Canaries" và thay đổi áo đấu của đội bóng sang màu vàng và màu xanh lá cây. Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, bóng đá bị đình chỉ tại thành phố và vì thành phố phải đối mặt với khoản nợ leo thang, câu lạc bộ đã tạm thời thanh lý vào ngày 10 tháng 12 năm 1917[6].

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, câu lạc bộ hoạt động trở lại vào ngày 15 tháng 2 năm 1919 bởi ông Watling, cha của chủ tịch câu lạc bộ sau đó, Geoffrey Watling[7] và đến tháng 5 năm 1920, giải đấu chính thức đưa vào hệ thống giải hạng ba, và Norwich là một trong những đội bóng tham dự mùa đầu tiên của giải hạng ba[8] Trận đấu đầu tiên của đội bóng là cuộc so tài với đội Plymouth Argyle, vào ngày 28 tháng 8 năm 1920, đã kết thúc với tỷ số hòa 1-1. Câu lạc bộ đã trải qua thêm một thập kỷ bóng đá, vị trí của đội cao nhất là vị trí thứ tám và vị trí thấp nhất của đội bóng này là vị trí thứ 18.[6] Thành công của câu lạc bộ đến ở thập kỷ 1930, với chiến thắng đậm 10-2 trước đội Coventry City và họ giành chức vô địch giải hạng hai mùa bóng 1933-34 dưới sự dẫn dắt của Tom Parker[9] Với số cổ động viên tiếp tục tăng cao, và vì việc Liên đoàn bóng đá Anh lo ngại về sự độ an toàn của sân The Nest, câu lạc bộ xem xét việc cải tạo thêm đất và chỗ ngồi cho khán giả nhưng cuối cùng ban lãnh đạo đội bóng đã chuyển đến sân vận động Carrow Road. Trong trận đầu tiên của đội bóng mùa 1935-36 và cũng là trận đấu đầu tiên của Norwich City thi đấu tại Carrow Road, đội đã giành chiến thắng 4-3 trước West Ham United và thiết lập một kỷ lục mới của câu lạc bộ về số cổ động viên tham dự là 29.779. Điểm nhấn lớn nhất của của câu lạc bộ là chuyến thăm của vua George VI đến sân Carrow Road vào ngày 29 tháng 10 năm 1938. Tuy nhiên câu lạc bộ đã bị xuống hạng vào cuối mùa 1938-39.[10] Câu lạc bộ đã phải đình chỉ hoạt động mùa giải sau như một kết quả của sự bùng nổ của Thế chiến thứ hai và không tham dự cho đến khi mùa giải 1946-47 khởi tranh.[6] Câu lạc bộ đã tiếp tục tham dự và đứng ở vị trí thứ 21[11][12] Kết quả nghèo nàn khiến Norwich City phải tham gia cuộc bầu cử thêm giải hạng tư[13]. Câu lạc bộ đã sa thải huấn luyện viên Norman trong những năm 1950, và sau sự trở lại của huấn luyện viên Tom Parker, Norwich hoàn thành mùa bóng với vị trí cuối bảng của giải đấu bóng đá trong mùa giải 1956-1957.[14]

Thành tích của Norwich City

Mùa bóng 1958-59 chứng kiến Norwich lọt vào đến bán kết FA Cup. Họ đã đánh bại Tottenham HotspurManchester United[13][15]. Mùa giải 1959-60, Norwich được thăng lên hạng nhì sau khi kết thúc ở vị trí thứ hai, và đứng sau Southampton. Mùa giải 1960-61, họ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ tư.[13] Năm 1962, Ron Ashman dẫn dắt Norwich đến danh hiệu đầu tiên của họ kể từ năm 1933, đánh bại Rochdale 4-0 trong trận chung kết để giành chức vô địch League Cup[16].

Vị trí thứ sáu là vị trí cao nhất của họ tại giải hạng hai trong thập kỷ 1960, nhưng vào mùa giải 1971-72, dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Ron Saunders, đội bóng đã chính thức được thăng hạng giải cao nhất của bóng đá Anh lần đầu tiên[17] Lần đầu tiên họ xuất hiện trên sân vận động Wembley là vào năm 1973 trong trận chung kết League Cup mùa bóng 1972-73, nhưng lại để thua 1-0 và bị mất danh hiệu vào tay Tottenham Hotspur.[18] Tuy nhiên họ đã bị xuống hạng hai vào mùa giải 1973-74 đã dẫn đến việc huấn luyện viên Saunders phải từ chức và bổ nhiệm John Bond làm huấn luyện viên mới[17]. Tuy nhiên mùa giải sau đó họ đã được thăng hạng trở lại giải hạng nhất mùa 1974-75, và lại trở lại sân Wembley khi vào đến chung kết League Cup, nhưng lại để thua 1-0 trước Aston Villa.[19] Bond từ chức trong mùa giải 1980-81 và câu lạc bộ bị xuống hạng vào cuối mùa, nhưng đã thăng hạng trở lại ở mùa giải tiếp đó sau khi kết thúc ở vị trí thứ ba.[20]

Mùa giải 1984-85 là mùa giải thành công nhưng không trọng vẹn cho câu lạc bộ, dưới dự dẫn dắt của Ken Brown, họ lọt vào chung kết của Cúp Liên đoàn bóng đá Anh tại sân vận động Wembley, sau khi đánh bại Ipswich Town trong trận bán kết. Trong trận chung kết, họ đánh bại Sunderland 1-0 để giành chức vô địch, nhưng trong giải hạng nhất thì cả Norwich và Sunderland đã bị xuống hạng hai của bóng đá Anh. Điều này làm cho Norwich trở thành câu lạc bộ đầu tiên giành một danh hiệu lớn và bị xuống hạng trong cùng một mùa giải cho đến khi Birmingham City cũng bị xuống hạng mặc dù mùa giải đó họ đã giành được League Cup 26 năm sau đó.

Giấc mơ được dự cúp châu Âu đầu tiên của họ đã bị phá sản mặc dù họ đã được dự cúp châu Âu mùa giải đó sau lệnh cấm các câu lạc bộ Anh vì thảm họa Heysel.[21][22] Chức vô địch của câu lạc bộ mùa giải 1985-86 đã giúp Norwich được thăng hạng trở lại giải bóng đá hạng nhất.[23] Đây là bước khởi đầu của những gì còn lại trong năm 2012, với kỷ lục đối với câu lạc bộ chín mùa liên tiếp trong hạng giải cao nhất của bóng đá Anh.[24] Việc đứng ở vị trí cao trong các giải hạng nhất mùa 1986-871988-89 là được dự UEFA Cup, nhưng lệnh cấm các câu lạc bộ nước Anh tham dự giải châu Âu vẫn còn[22].Họ cũng đã giành chức vô địch FA Cup vào năm 1989 và một lần nữa vào năm 1992.[25][26]

Mùa giải 1992-93, mùa giải khai mạc Premier League, Norwich dẫn đầu hầu hết cả mùa giải,[27] nhưng sự sa sút trong những vòng đấu cuối cùng khiến Norwich tuột ngôi vô địch và kết thúc ở vị trí thứ ba sau nhà vô địch Manchester United và đội á quân Aston Villa.[28] Mùa giải sau đó là mùa giải đầu tiên họ dự cúp UEFA Cup, thua ở lượt trận thứ ba trước Inter Milan, nhưng đánh bại Bayern München. Chiến thắng 2-1, Norwich là đội bóng Anh duy nhất đánh bại Bayern München ngay trên sân vận động Olympic, và cho đến nay chỉ có thêm Chelsea và Arsenal là đội bóng Anh thứ 2 và 3 đánh bại Bayern ngay tại Đức.[27][29][30][31][32] Mike Walker từ chức huấn luyện viên trưởng câu lạc bộ trong tháng 1 năm 1994,[33] để đến Everton và đã được thay thế bằng cầu thủ đã từng thi đấu cho đội bóng trước đây 36 năm, John Deehan và đã giúp câu lạc bộ ở đứng ở vị trí thứ 12 trong mùa giải 1993-94 tại Premier League.[34] Mùa sau, câu lạc bộ thi đấu không tốt và bị xuống hạng nhất[35].Một thời gian ngắn trước khi xuống hạng, Deehan từ chức và trợ lý của ông, Gary Megson đã huấn luyện đội bóng cho đến khi mùa giải kết thúc.[36] Martin O'Neill đã được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của Norwich trong mùa hè 1995.[37] Ông chỉ kéo dài công việc được sáu tháng trước khi từ chức sau một cuộc tranh chấp với chủ tịch Robert Chase tiền để tăng cường đội hình.[38] Ngay sau đó, Chase đã từ chức sau khi cuộc biểu tình của hội cổ động viên của câu lạc bộ, người phàn nàn rằng ông tiếp tục bán những cầu thủ tốt nhất của câu lạc bộ và là để đổ lỗi cho sự xuống hạng của họ[39] Thay thế chức chủ tịch câu lạc bộ của Chase là Geoffrey Watling[40].

Dẫn chương trình đầu bếp Anh Delia Smith và chồng Michael Wynn-Jones đưa hơn phần lớn các cổ phiếu vào Norwich City từ Watling trong năm 1996[40] và Mike Walker đã được tái bổ nhiệm làm huấn luyện viên của câu lạc bộ[41]. Ông đã không thể lặp lại thành công đạt được trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình và đã bị sa thải hai mùa giải sau đó, và mùa giải ấy Norwich giữa bảng xếp hạng trong giải hạng nhất[42].Nigel Worthington đã được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của câu lạc bộ trong tháng 12 năm 2000, sau hai mùa giải không mấy thành công cho câu lạc bộ dưới thời Bruce Rioch và sau đó là Bryan Hamilton. Ông đã được các trợ lý huấn luyện dưới thời Hamilton, người đã từ chức với các câu lạc bộ vì chỉ đứng ở vị trí thứ 20 trong giải hạng nhất và có nguy cơ của việc phải xuống hạng nhì của bóng đá Anh lần đầu tiên kể từ những năm 1960[43]. Worthington đã giúp Norwich City trụ hạng thành công và mùa giải sau đó, đã đưa Norwich đến trận một chung kết tại sân vận động Millennium, và trận đó Norwich bị thua trước Birmingham City trên chấm phạt đền[44].

Các cầu thủ ăn mừng chức vô địch hạng nhất 2003-04

Mùa bóng 2003-04 cho thấy sự trở lại của Norwich, họ đã giành chức vô địch giải hạng nhất, hơn đội nhì bảng West Bromwich Albion 8 điểm và trở lại giải đấu cao nhất nước Anh sau mười năm vắng bóng.[45] Phần lớn mùa giải 2004-05, họ phải đấu tranh để giành suất trụ hạng, mặc dù đã đánh bại Manchester United 2-0 và Newcastle United 2-1 ở các vòng đấu áp chót,[46] tuy nhiên thất bại ở vòng đấu cuối cùng trước đội bóng cạnh tranh trực tiếp Fulham với tỷ số đậm 6-0 đã tiễn Norwich về lại với giải hạng nhất.[47] Một mùa giải sau đó họ thi đấu tại giải hạng nhất, kết thúc mùa giải ở một vị trí ngoài top 3. Kết quả hồi đầu mùa giải 2006-07 đã đi ngược lại theo chiều hướng của câu lạc bộ, và sau trận thua 4-1 trước đối thủ Burnley ngày 1 tháng 10 năm 2006, huấn luyện viên Nigel Worthington đã bị sa thải.[48] Ngày 16 tháng 10 năm 2006, Norwich đã tổ chức một cuộc họp báo tiết lộ rằng cựu cầu thủ của câu lạc bộ Peter Grant đã rời West Ham United để trở thành huấn luyện viên mới của câu lạc bộ[49], và trong tháng 2 năm 2007, Grant thay thế trợ lý Doug Livermore bằng trợ lý người Scot, Jim Duffy[50]. Ông đã giúp Norwich trụ hạng mùa giải đó. Đầu mùa giải 2007-08, Norwich đã có một khởi đầu tồi tệ. Sau thất bại 1-0 trước Queens Park Rangers, Peter Grant đã rời câu lạc bộ bởi thỏa thuận giữa hai bên vào ngày 9 tháng 10 năm 2007[51] Vào ngày 30 tháng 10 năm 2007, Norwich bổ nhiệm cựu cầu thủ của Newcastle United, Glenn Roeder làm huấn luyện viên trưởng của câu lạc bộ.[52] Roeder được đưa về với mục đích là để giúp cho Norwich trụ hạng ở lại giải hạng nhất, và ông đã giúp Norwich trụ hạng thành công với chiến thắng 3-0 trước Queens Park Rangers, trận áp chót của mùa giải.

Đầu giờ chiều ngày 14 tháng 1 năm 2009, Norwich thông báo là đã chính thức sa thải huấn luyện viên Roeder chỉ sau sáu mươi trận cầm quân và thắng 20 trận, chỉ bằng 1/3.[53] Một tuần sau, Bryan Gunn đã được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng tạm quyền cho đến khi kết thúc mùa giải[54] nhưng ông không thể ngăn cản câu lạc bộ bị xuống hạng vào ngày 3 tháng 5 năm 2009, sau khi thất bại 4-2 trước đội bóng đã xuống hạng, Charlton Athletic. nhưng ông không thể ngăn cản câu lạc bộ bị xuống hạng vào ngày 3 tháng 5 năm 2009, sau khi thất bại 4-2 trước đội bóng đã xuống hạng, Charlton Athletic[55]. Sau khi xuống hạng nhì, trận đấu đầu tiên trong mùa giải của họ kết thúc, với một cú sốc thất bại đậm 1-7 trước đối thủ vùng đông Anglian, Colchester United. Đây là thất bại nặng nhất trong lịch sử câu lạc bộ kể từ năm 1946. Hai người hâm mộ của Norwich đã vào sân xem và khi thấy đội nhà bị dẫn trước 4-0 chỉ sau có 22 phút, họ bất mãn đã xé vé xem trận đấu[56] và vì vậy, sáu ngày sau, Gunn đã bị ban lãnh đạo câu lạc bộ sa thải.[57]

Ngày 18 tháng 8 năm 2009, ban lãnh đạo Norwich City đã chính thức bổ nhiệm Paul Lambert làm huấn luyện viên mới cho câu lac bộ, để lại chỗ trống của mình tại Colchester, và ông đã giúp Norwich thăng hạng nhất Anh vào cuối mùa giải[58][59]. Mùa giải tiếp theo, chứng kiến Norwich thăng hạng Premier League, đứng thứ hai trên bảng xếp hạng chỉ sau QPR và trở thành đội bóng tiếp theo được thăng hạng hai lên ngoại hạng chỉ sau có hai mùa giải, sau Manchester City vào năm 2000.[60] Mùa giải trở lại Premier League của Norwich City đã kết thúc thành công, khi họ đứng ở vị trí thứ 12. Sau đó, huấn luyện viên Paul Lambert đã chuyển đến Aston Villa, đươc thay thế bằng Chris Hughton. Mùa giải 2012-13 bắt đầu không mấy suôn sẻ với Norwich, khi họ bất ngờ phải nhận thất bại bẽ bàng 5-0 trớc Fulham ngay ở vòng đấu đầu tiên. Tuy nhiên các chiến thắng 1-0 trước ArsenalManchester United đã giúp Norwich trở lại phong độ. Trận thua 1-0 trước Luton Town đã khiến Norwich trở thành đội bóng Anh đầu tiên bị loại khỏi FA Cup bằng một đội bóng không ở hạng thi đấu nào sau 24 năm.[61] Giai đoạn lượt về của mùa giải, Norwich hầu như toàn hòa và thua, chỉ có hai chiến thắng tính đến trước vòng áp chót, nhưng chiến thắng 4-0 ở vòng áp chót trước West Bromwich Albion đã giúp Norwich trụ lại một mùa bóng nữa tại giải Ngoại hạng Anh, và chiến thắng 3-2 ở vòng đấu cuối cùng trước Manchester City giúp Norwich kết thúc mùa bóng 2012-13 ở vị trí thứ 11.

Màu sắc và biểu ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Biệt danh của câu lạc bộ Norwich City, "The Canaries", từ lâu ảnh hưởng màu sắc và biểu ngữ của câu lạc bộ. Ban đầu câu lạc bộ có biệt danh Citizens (thuế ngắn), và chơi bóng trong áo đấu màu xanh và quần trắng giảm đi một nửa[6] mặc dù nửa là không phù hợp, cho rằng: "màu xanh đôi khi ở phía bên tay trái của áo sơ mi và đôi khi phía bên phải".[62] Truyền thống của câu lạc bộ đối với chim bạch yến, đi kèm trong một cuộc phỏng vấn được ghi lại trong báo chí hàng ngày với huấn luyện viên mới được bổ nhiệm vào lúc đó, John Bowman trong tháng 4 năm 1905. Bài viết trích dẫn ông nói: Vâng, tôi biết về sự tồn tại của thành phố... Tôi đã... nghe nói về chim bạch yến...[3], như chúng tôi có thể nói là lần đầu tiên các trò tiêu khiển phổ biến trong ngày tức... nuôi... chim bạch yến đã gắn với truyền thống của Norwich City FC... nên vì vậy câu lạc bộ vẫn còn chơi trong màu áo đấu xanh và trắng, và sẽ tiếp tục làm như vậy trong một đến hai mùa giải nữa[3]. Tuy nhiên, thành phố Norwich đã có một truyền thống lâu dài với chim bạch yến do từ thế kỷ 15 và 16 đã nhập khẩu những con chim bạch yến từ các thuộc địa của Hà Lan trong vùng biển Caribbean.

Từ tháng 2 năm 1907, biệt danh "Canaries" đã trở thành thịnh hành hơn. Sau khi xem trận đấu FA Cup của West Brom, (biệt danh là "Throstles" sau một loài chim) là "một cuộc thi chim ca hát" đã được bác bỏ bởi các học giả CB Fry là "thủ đoạn "nhưng Bowman và Fry cùng với các đồng nghiệp báo chí trong nước ngày càng được gọi đội là Canaries.[63]

Biểu ngữ của thành phố Norwich

Mùa bóng tiếp theo, để phù hợp với biệt danh, đội bóng chơi lần đầu tiên trong màu áo, "áo vàng với cổ áo màu xanh lá cây và một tờ giấy sản xuất báo giá" Thuế TNDN đã không còn nhưng biệt danh Canaries là rất sống động.[64] Ngoài các liên kết màu sắc rõ ràng, màu sắc của chim bạch yến có vẻ là một sự lựa chọn kỳ lạ, tuy nhiên, nhiều câu lạc bộ bóng đá Anh đã lấy các loài chim nhỏ làm biểu ngữ như là một biểu tượng tượng trưng cho sự nhanh nhẹn và khéo tay xung quanh lĩnh vực này[65].

Trong khi các màu áo đấu khi thi đấu trên sân nhà là màu vàng và màu xanh lá cây là vẫn còn cho đến ngày nay, còn các màu áo đấu khi thi đấu trên sân khách đã thay đổi rất nhiều lần kể từ khi giới thiệu. Bộ quần áo đấu khi thi đấu trên sân khách cho mùa giải 2012-13 là áo sơ mi và quần tất cả đều màu đen.[66]

Một logo câu lạc bộ trong đó có hình chim bạch yến đơn giản lần đầu tiên được chọn là vào năm 1922.[67] Logo của câu lạc bộ hiện tại bao gồm hình một chú chim bạch yến đang đậu trên một quả bóng đá với một biểu ngữ của thành phố Norwich ở góc trên bên tay trái.[68] Một cuộc thi đã được tổ chức để lựa chọn logo, và logo thắng cuộc chính là logo được thiết kế bởi kiến trúc sư địa phương Andrew Anderson.

Lễ kỷ niệm 100 năm ngày thành lập câu lạc bộ vào năm 2002, một biểu ngữ đặc biệt được thiết kế. Nó nổi bật với hai chú chim bạch yến được thiết kế ở cả hai bên tay trái và bên tay phải, và một dải ruy băng ghi nhận một trăm năm thành lập câu lạc bộ.[69]

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Carrow Road
Hình "River End" của sân Carrow Road, được trang trí bởi người hâm mộ giữ tờ quảng cáo được phân phối bởi một tờ báo địa phương

Norwich City F.C. chơi ở sân Newmarket Road từ năm 1902-1908, với sự tham dự trận đấu kỷ lục là 10.366, trong trận đấu mà họ ghi bàn vào lưới Sheffield Wednesday tại một vòng thứ hai FA Cup vào năm 1908..[70] Sau một cuộc tranh cãi về các điều kiện cho thuê đất để mở rông sân Road Newmarket, trong năm 1908 câu lạc bộ chuyển đến một sân vận động mới, là một sân bỏ hoang với tên là Rosary Road hay còn được gọi là sân The Nest[71] Đến đầu những năm 1930, do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cũng như số cổ động viên của câu lạc bộ ngày càng tăng, vào năm 1935 câu lạc bộ chuyển đến sân vận động mới và được coi là sân nhà từ năm đó cho đến nay, sân Carrow Road.[72] Sân vận động ban đầu được xem là: "công trình xây dựng lớn nhất của thành phố kể từ khi xây dựng thành phố Norwich, nó là một công trình kỳ diệu được xây dựng chỉ trong 82 ngày, và nó được các quan chức câu lạc bộ gọi nhưc kỳ quan thứ tám của thế giới"[73][74] Một bức ảnh trên không được chụp từ tháng 8 năm 1935 cho thấy ba mặt của cầu thang được mở và đứng được bảo hiểm, quảng cáo của Colman được vẽ trên sân vận động của mình.[75] Đèn pha được dựng chiếu vào năm 1956 với chi phí 9000 bảng Anh chỉ vì câu lạc bộ bị phá sản nhưng sự thành công tại FA Cup 1959 đảm bảo tình hình tài chính của câu lạc bộ và xây lắp thêm một hàng ghế ngồi trên khán đài Nam, và đã từng được thay thế vào năm 2003 khi mới 7.000 chỗ ngồi, sau đó đổi tên Stand Jarrold.[72]

Năm 1963 chứng kiến số cổ động viên vào sân Carrow Road đạt mức kỉ lục là 43.984 khán giả tại một vòng FA Cup lần thứ sáu với Leicester City nhưng trong thảm họa Ibrox năm 1971, giấy phép an toàn được yêu cầu của các câu lạc bộ mà dẫn đến khả năng số chỗ ngồi sẽ bị giảm mạnh đến khoảng 20.000 chỗ. Một sân hai tầng chỗ ngồi được xây dựng River End và ngay sau đó chỗ ngồi bắt đầu thay thế các bậc thang đi lại. Năm 1979, sân vận động có sức chứa 28.392 người với số chỗ ngồi là 12.675 người. Một ngọn lửa vào năm 1984 phá hủy một phần một trong những hàng chỗ ngồi mà cuối cùng dẫn đến phá hủy hoàn toàn tất cả sân và được thay thế vào năm 1987 của sân vận động thành phố Stand mới. Chủ tịch Robert Chase mô tả là "Đến với một trận đấu bóng đá trong thành phố Stand như đi đến nhà hát. Và sự khác biệt duy nhất là sân khấu của chúng tôi được bao phủ bởi cỏ"[72] Sau thảm họa Hillsborough vào năm 1989 và kết quả tiếp theo của Báo cáo Taylor vào năm 1990, tất cả các chỗ ngồi của sân vận động với các góc đã được lấp đầy. Ngày nay, sân Carrow Road là một sân vận động có số chỗ ngồi chỉ hơn 27.000 chỗ.[76]

Bài hát chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: On the Ball, City
Fan Norwich City năm 2002 tại sân nhà của Cardiff, Sân vận động Millennium

Trong khi phần lớn sự hỗ trợ của câu lạc bộ là nguồn tài chính địa phương, có một số câu lạc bộ có fan hâm mộ lưu vong nước ngoài, đặc biệt là các câu lạc bộ ở London và kéo dài từ Bắc Âu đến các nước xa hơn như Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhấtHồng Kông.[77]

Bài hát chính thức của hội cổ động viên câu lạc bộ, On the Ball, City được xem là bài hát bóng đá lâu đời nhất trên thế giới vẫn còn tồn tại đến ngày nay.[78] Bài hát là một trong những bài hát chính thức của câu lạc bộ đã có thể được sáng tác cho giáo viên của thành phố Norwich hoặc FC Caley trong những năm 1890 và điều chỉnh thành bài hát chính thức của hội cổ động viên câu lạc bộ Norwich City.[3] Mặc dù việc sử dụng đầu tiên của giai điệu và bài hát còn gây tranh cãi, nó đã được chính thức thông qua năm 1902 và nó vẫn được sử dụng cho đến ngày hôm nay là một phần nếu không phải là toàn bộ[3] Sau đây là một phần lời bài hát (bằng tiếng Anh):

Kick off, throw in, have a little scrimmage,
Keep it low, a splendid rush, bravo, win or die;
On the ball City, never mind the danger,
Steady on, now’s your chance,

Hurrah!
We’ve scored a goal, City! City! City!

Đội nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Norwich City Ladies là câu lạc bộ bóng đá dành cho nữ của Norwich City.[79] Đội bóng thi đấu tại giải hạng ba. Họ được quản lý bởi Emma Fletcher.[79] Sân nhà của đội nữ ở Plantation Park, Blofield, Norwich.[79]

Các nhà tài trợ[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải Tài trợ[80] Nhà sản xuất áo đấu
1975–1976 Không có Umbro
1976–1981 Admiral
1981–1983 Adidas
1983–1986 Poll Withey Windows/ Poll Withey Adidas năm 1984, Hummel từ năm 1984
1986–1989 Foster's Lager Hummel (năm 1987), Scoreline (năm 1989)
1989–1992 Asics Asics
1992–1997 Norwich and Peterborough Building Society Ribero năm 1994, Mitre
1997–2001 Colman's Pony (1997–1998), Alexandra Plc (1998–2001)
2001–2003 Digital Phone Company Xara
2003–2006 Proton Cars/Lotus Cars
2006–2008 Flybe.com
2008– Norwich Union/Aviva Erreà (2011–)

Giữa năm 2006 và 2008 câu lạc bộ được tài trợ bởi hãng hàng không Flybe nhưng vào ngày 26 tháng 4 năm 2008, nó đã được thông báo rằng họ đã là nhà tài trợ chính.[81] Ngày 29 tháng 4 năm 2008, câu lạc bộ thông báo rằng Aviva có văn phòng tại thành phố, công ty mẹ của công ty con Norwich Union, sẽ tài trợ áo sơ mi đã ký một hợp đồng ba năm.[82] Năm 2009, hợp đồng đã được mở rộng cho đến khi kết thúc mùa giải 2011-12.[83] Hợp đồng đã được mở rộng trong năm 2012 thêm 4 năm cho đến khi kết thúc mùa giải 2015-16.

Đội hình chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình 1[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 31 tháng 1 năm 2014.[84][85][86]
 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
1 Anh TM John Ruddy
2 Scotland HV Russell Martin (đội trưởng)
3 Scotland HV Steven Whittaker
4 Anh TV Bradley Johnson
5 Cameroon HV Sébastien Bassong (đội phó)
6 Anh HV Michael Turner
7 Scotland TV Robert Snodgrass
8 Anh TV Jonny Howson
9 Hà Lan Ricky van Wolfswinkel
10 Hà Lan TV Leroy Fer
11 Anh Gary Hooper
12 Republic of Ireland TV Anthony Pilkington
13 Anh TM Mark Bunn
14 Republic of Ireland TV Wes Hoolahan
15 Argentina TV Jonás Gutiérrez (mượn từ Newcastle United)
 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
16 Thụy Điển Johan Elmander (mượn từ Galatasaray)
17 Anh TV Elliott Bennett
18 Tây Ban Nha HV Javier Garrido
19 Argentina Luciano Becchio
20 Anh TM Carlo Nash
22 Anh TV Nathan Redmond
23 Thụy Điển HV Martin Olsson
24 Anh HV Ryan Bennett
25 Anh TV David Fox
26 Nigeria HV Joseph Yobo (mượn từ Fenerbahçe)
27 Na Uy TV Alexander Tettey
31 Anh Josh Murphy
33 Anh TV Reece Hall-Johnson
34 Pháp HV Adel Gafaiti

Cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
32 Anh Jacob Murphy (đến Swindon Town hết 8 tháng 3 năm 2014)
Anh TM Declan Rudd (đến Preston North End hết mùa bóng 2013-14)
Anh TV Andrew Surman (đến Bournemouth hết mùa bóng 2013-14)
Bắc Ireland TV Cameron McGeehan (đến Luton Town hết mùa bóng 2013-14)

Cầu thủ đáng chú ý[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu ý: Tất cả các cầu thủ chơi trong quá khứ và hiện tại ở đây là những cầu thủ có bài viết trên Wikipedia có thể được tìm thấy

Trong khi kỷ niệm 100 năm ngày thành lập câu lạc bộ, "Hall of Fame" đã được thành lập ra, tôn vinh 100 cựu cầu thủ được lựa chọn bởi người hâm mộ bình chọn. Các cầu thủ hơn nữa đã từng được giới thiệu vào Norwich City Hall of Fame vào năm 2003, 2006 và 2012.

Norwich City XI[sửa | sửa mã nguồn]

Trong năm 2008, cổ động viên bỏ phiếu để xác định cầu thủ vĩ đại nhất đội Norwich City: [87]

Cầu thủ xuất sắc nhất năm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Vô địch
1967 Anh Terry Allcock
1968 Scotland Hugh Curran
1969 Scotland Ken Foggo
1970 Scotland Duncan Forbes
1971 Scotland Ken Foggo
1972 Anh Dave Stringer
1973 Anh Kevin Keelan
1974 Anh Kevin Keelan
1975 Scotland Colin Suggett
1976 Anh Martin Peters
1977 Anh Martin Peters
1978 Anh John Ryan
 
Năm Vô địch
1979 Anh Tony Powell
1980 Anh Kevin Bond
1981 Anh Joe Royle
1982 Anh Greg Downs
1983 Anh Dave Watson
1984 Anh Chris Woods
1985 Anh Steve Bruce
1986 Anh Kevin Drinkell
1987 Anh Kevin Drinkell
1988 Scotland Bryan Gunn
1989 Anh Dale Gordon
1990 Wales Mark Bowen
 
Năm Vô địch
1991 Anh Ian Culverhouse
1992 Scotland Robert Fleck
1993 Scotland Bryan Gunn
1994 Anh Chris Sutton
1995 Anh Jon Newsome
1996 Anh Spencer Prior
1997 Anh Darren Eadie
1998 Anh Matt Jackson
1999 Wales Iwan Roberts
2000 Wales Iwan Roberts
2001 Anh Andy Marshall
2002 Scotland Gary Holt
 
Năm Vô địch
2003 Anh Adam Drury
2004 Anh Craig Fleming
2005 Anh Darren Huckerby
2006 Ireland Gary Doherty
2007 Anh Darren Huckerby
2008 Anh Dion Dublin
2009 Anh Lee Croft
2010 Anh Grant Holt
2011 Anh Grant Holt
2012 Anh Grant Holt
2013 Cameroon Sébastien Bassong

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Huấn luyện viên cũ, Bryan Gunn
Danh sách tính đến 14 tháng 3 năm 2013. Không bao gồm các huấn luyện viên thể lực và tạm quyền. Chỉ tính những huấn luyện viên chính thức, các trận thi đấu được tính.[88]
Tên Quốc tịch Từ Đến ST T H B %T
John Bowman Anh 1 tháng 8, 1905 31 tháng 7, 1907 &0000000000000078.00000078 &0000000000000031.00000031 &0000000000000023.00000023 &0000000000000024.00000024 &0000000000000039.70000039,7
James McEwen Scotland 1 tháng 8, 1907 31 tháng 5, 1908 &0000000000000043.00000043 &0000000000000013.00000013 &0000000000000010.00000010 &0000000000000020.00000020 &0000000000000030.20000030,2
Arthur Turner Anh 1 tháng 8, 1909 31 tháng 5, 1910 &0000000000000086.00000086 &0000000000000027.00000027 &0000000000000022.00000022 &0000000000000037.00000037 &0000000000000031.40000031,4
Bert Stansfield Anh 1 tháng 8, 1910 31 tháng 5 1915 &0000000000000248.000000248 &0000000000000078.00000078 &0000000000000075.00000075 &0000000000000095.00000095 &0000000000000031.50000031,5
Major Frank Buckley Anh 1 tháng 8 1919 1 tháng 7, 1920 &0000000000000043.00000043 &0000000000000015.00000015 &0000000000000011.00000011 &0000000000000017.00000017 &0000000000000034.90000034,9
Charles O'Hagan Anh 1 tháng 7, 1920 1 tháng 1, 1921 &0000000000000021.00000021 &0000000000000004.0000004 &0000000000000009.0000009 &0000000000000008.0000008 &0000000000000019.00000019,0
Albert Gosnell Anh 1 tháng 1, 1921 28 tháng 2, 1926 &0000000000000233.000000233 &0000000000000059.00000059 &0000000000000079.00000079 &0000000000000095.00000095 &0000000000000025.30000025,3
Bert Stansfield Anh 1 tháng 3, 1926 1 tháng 11, 1926
Cecil Potter Anh 1 tháng 11, 1926 1 tháng 1, 1929 &0000000000000101.000000101 &0000000000000030.00000030 &0000000000000026.00000026 &0000000000000045.00000045 &0000000000000029.70000029,7
James Kerr Anh 1 tháng 4, 1929 28 tháng 2, 1933 &0000000000000168.000000168 &0000000000000065.00000065 &0000000000000043.00000043 &0000000000000060.00000060 &0000000000000038.70000038,7
Tom Parker Anh 1 tháng 3, 1933
1 tháng 5, 1955
1 tháng 2, 1937
31 tháng 3, 1957
&0000000000000271.000000271 &0000000000000104.000000104 &0000000000000069.00000069 &0000000000000098.00000098 &0000000000000038.40000038,4
Bob Young Anh 1 tháng 2, 1937
1 tháng 9, 1939
31 tháng 12, 1938
31 tháng 5, 1946
&0000000000000078.00000078 &0000000000000026.00000026 &0000000000000014.00000014 &0000000000000038.00000038 &0000000000000033.30000033,3
Jimmy Jewell Anh 1 tháng 1, 1939 1 tháng 9, 1939 &0000000000000020.00000020 &0000000000000006.0000006 &0000000000000004.0000004 &0000000000000010.00000010 &0000000000000030.00000030,0
Duggie Lochhead Scotland 1 tháng 12, 1945 1 tháng 3, 1950 &0000000000000104.000000104 &0000000000000042.00000042 &0000000000000028.00000028 &0000000000000034.00000034 &0000000000000040.40000040,4
Cyril Spiers Anh 1 tháng 6, 1946 1 tháng 12, 1947 &0000000000000065.00000065 &0000000000000015.00000015 &0000000000000012.00000012 &0000000000000038.00000038 &0000000000000023.10000023,1
Norman Low Scotland 1 tháng 5, 1950 30 tháng 4, 1955 &0000000000000258.000000258 &0000000000000129.000000129 &0000000000000056.00000056 &0000000000000073.00000073 &0000000000000050.00000050,0
Archie Macaulay Scotland 1 tháng 4, 1957 1 tháng 10, 1961 &0000000000000224.000000224 &0000000000000105.000000105 &0000000000000060.00000060 &0000000000000059.00000059 &0000000000000046.90000046,9
Willie Reid Scotland 1 tháng 12, 1961 1 tháng 5, 1962 &0000000000000031.00000031 &0000000000000013.00000013 &0000000000000006.0000006 &0000000000000012.00000012 &0000000000000041.90000041,9
George Swindin Anh 1 tháng 5, 1962 30 tháng 11, 1962 &0000000000000020.00000020 &0000000000000010.00000010 &0000000000000005.0000005 &0000000000000005.0000005 &0000000000000050.00000050,0
Ron Ashman Anh 1 tháng 12, 1962 31 tháng 5, 1966 &0000000000000162.000000162 &0000000000000059.00000059 &0000000000000039.00000039 &0000000000000064.00000064 &0000000000000036.40000036,4
Lol Morgan Anh 1 tháng 6, 1966 1 tháng 5, 1969 &0000000000000127.000000127 &0000000000000045.00000045 &0000000000000047.00000047 &0000000000000035.00000035 &0000000000000035.40000035,4
Ron Saunders Anh 1 tháng 7, 1969 16 tháng 11, 1973 &0000000000000221.000000221 &0000000000000084.00000084 &0000000000000061.00000061 &0000000000000076.00000076 &0000000000000038.00000038,0
John Bond Anh 27 tháng 11, 1973 31 tháng 10, 1980 &0000000000000340.000000340 &0000000000000105.000000105 &0000000000000114.000000114 &0000000000000121.000000121 &0000000000000030.90000030,9
Ken Brown Anh 1 tháng 11, 1980 9 tháng 11, 1987 &0000000000000367.000000367 &0000000000000150.000000150 &0000000000000093.00000093 &0000000000000124.000000124 &0000000000000040.90000040,9
Dave Stringer Anh 9 tháng 11, 1987 1 tháng 5, 1992 &0000000000000229.000000229 &0000000000000089.00000089 &0000000000000058.00000058 &0000000000000082.00000082 &0000000000000038.90000038,9
Mike Walker Wales 1 tháng 6, 1992
21 tháng 6, 1996
6 tháng 1, 1994
30 tháng 4, 1998
&0000000000000179.000000179 &0000000000000069.00000069 &0000000000000046.00000046 &0000000000000064.00000064 &0000000000000038.50000038,5
John Deehan Anh 12 tháng 1, 1994 31 tháng 7, 1995 &0000000000000058.00000058 &0000000000000013.00000013 &0000000000000022.00000022 &0000000000000023.00000023 &0000000000000022.40000022,4
Martin O'Neill Bắc Ireland tháng 8, 1995 tháng 12, 1995 &0000000000000026.00000026 &0000000000000012.00000012 &0000000000000009.0000009 &0000000000000005.0000005 &0000000000000046.20000046,2
Gary Megson Anh tháng 12 1995 21 tháng 6, 1996 &0000000000000032.00000032 &0000000000000005.0000005 &0000000000000010.00000010 &0000000000000017.00000017 &0000000000000015.60000015,6
Bruce Rioch Scotland 12 tháng 6, 1998 13 tháng 3, 2000 &0000000000000093.00000093 &0000000000000030.00000030 &0000000000000031.00000031 &0000000000000032.00000032 &0000000000000032.30000032,3
Bryan Hamilton Bắc Ireland 5 tháng 4, 2000 4 tháng 10, 2000 &0000000000000035.00000035 &0000000000000010.00000010 &0000000000000010.00000010 &0000000000000015.00000015 &0000000000000028.60000028,6
Nigel Worthington Bắc Ireland 4 tháng 12, 2000 2 tháng 10, 2006 &0000000000000280.000000280 &0000000000000114.000000114 &0000000000000104.000000104 &0000000000000062.00000062 &0000000000000040.70000040,7
Peter Grant Scotland 13 tháng 10, 2006 9 tháng 10, 2007 &0000000000000054.00000054 &0000000000000018.00000018 &0000000000000012.00000012 &0000000000000024.00000024 &0000000000000033.30000033,3
Glenn Roeder Anh 30 tháng 10, 2007 14 tháng 1, 2009 &0000000000000065.00000065 &0000000000000020.00000020 &0000000000000015.00000015 &0000000000000030.00000030 &0000000000000030.80000030,8
Bryan Gunn Scotland 16 tháng 1, 2009 13 tháng 8, 2009 &0000000000000021.00000021 &0000000000000006.0000006 &0000000000000005.0000005 &0000000000000010.00000010 &0000000000000028.60000028,6
Paul Lambert Scotland 18 tháng 8, 2009 2 tháng 6, 2012 &0000000000000142.000000142 &0000000000000070.00000070 &0000000000000037.00000037 &0000000000000035.00000035 &0000000000000049.30000049,3
Chris Hughton Ireland 6 tháng 6, 2012 đương nhiệm &0000000000000041.00000041 &0000000000000012.00000012 &0000000000000014.00000014 &0000000000000015.00000015 &0000000000000029.30000029,3

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Norwich City đã giành được một số danh hiệu, bao gồm:[89]

Hạng giải[sửa | sửa mã nguồn]

Premier League (ngoại hạng và vô địch quốc gia)

  • thứ 3 (1) (1992–93)

Giải bóng đá hạng nhất Anh (hạng 1)

  • Vô địch (3): 1971–72, 1985–86, 2003–04
    • Á quân (1): 2010–11 (và lên vô địch quốc gia)

Hạng nhì Anh (hạng hai)

  • Vô địch (2): 1933–34, 2009–10
    • Á quân (1): 1959–60

Cúp[sửa | sửa mã nguồn]

FA Cup

  • Bán kết và vô địch (3): 1959, 1989, 1992

Cúp liên đoàn

  • Vô địch (2):1965, 1985
    • Á quân (2): 1973, 1975

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Norwich City History”. 4thegame.com. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2007. 
  2. ^ Portsmouth 0–1 Norwich, BBC Sport website. Retrieved 22 tháng 5 năm 2013.
  3. ^ a ă â b c Eastwood. Canary Citizens. tr. 24. 
  4. ^ Club history 1902 to 1940 Norwich City FC
  5. ^ Eastwood, John; Mike Davage (1986). Canary Citizens. Almeida Books. tr. 1, p19. ISBN 0-7117-2020-7. 
  6. ^ a ă â b “History – 1902/1940”. Norwich City FC. Truy cập 23 tháng 5 năm 2013. 
  7. ^ Eastwood. Canary Citizens. tr. 46. 
  8. ^ Eastwood. Canary Citizens. tr. 47. 
  9. ^ “Final 1933/1934 English Division 3 South Table”. Soccerbase. Truy cập 23 tháng 5 năm 2013. 
  10. ^ “Final 1938/1939 English Division 2 (old) Table”. Soccerbase. Truy cập 23 tháng 5 năm 2013. 
  11. ^ “Final 1946/1947 English Division 3 South Table”. Soccerbase. Truy cập 23 tháng 5 năm 2013. 
  12. ^ “Final 1947/1948 English Division 3 South Table”. Soccerbase. Truy cập 23 tháng 5 năm 2013. 
  13. ^ a ă â “History – 1941/1969”. Norwich City FC. Truy cập 23 tháng 5 năm 2013. 
  14. ^ “Final 1956/1957 English Division 3 South Table”. Soccerbase. Truy cập 24 tháng 5 năm 2013. 
  15. ^ “English FA Cup 1958/1959”. Soccerbase. Truy cập 24 tháng 5 năm 2013. 
  16. ^ “English League Cup 1961/1962”. Soccerbase. Truy cập 24 tháng 5 năm 2013. 
  17. ^ a ă “History – 1970/1985”. Norwich City FC. Truy cập 24 tháng 5 năm 2013. 
  18. ^ sd?gameid=259796 “English League Cup Final 1972–73”. Soccerbase. Truy cập 24 tháng 5 năm 2013. 
  19. ^ “English League Cup Final 1974–75”. Soccerbase. Truy cập 24 tháng 5 năm 2013. 
  20. ^ “Final 1981/1982 English Division 2 (old) Table”. Soccerbase. Truy cập 24 tháng 5 năm 2013. 
  21. ^ “English League Cup 1984–85”. Soccerbase. Truy cập 24 tháng 5 năm 2013. 
  22. ^ a ă “History 1986/95”. Norwich City FC. Truy cập 24 tháng 5 năm 2013. 
  23. ^ “Final 1985/1986 English Division 2 (old) Table”. Soccerbase. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  24. ^ “Norwich City”. fchd.com. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2012. 
  25. ^ “English FA Cup 1988/1989”. Soccerbase. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  26. ^ “English FA Cup 1991/1992”. Soccerbase. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  27. ^ a ă “History 1986/1995”. Norwich City FC. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  28. ^ “Final 1992/1993 English Premier Table”. Soccerbase. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  29. ^ Trước năm 2006, từ 1971-2005 Bayern Munchen dùng sân Olympic làm sân nhà. Từ 2006 sân nhà của Bayern München là Allianz Arena. Xem thêm bài FC Bayern München.
  30. ^ “UEFA Cup 1993/1994”. Soccerbase. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  31. ^ “Goss recalls Canaries' finest hour”. BBC Sport. 18 tháng 4 năm 2001. Truy cập 26 tháng 5 năm 2013. 
  32. ^ “Bayern hope for home comforts”. uefa.com. 12 tháng 4 năm 2005. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  33. ^ “Walker leaves Norwich City”. BBC Sport. 27 tháng 3 năm 2007. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  34. ^ “Final 1993/1994 English Premier Table”. Soccerbase. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  35. ^ “Final 1994/1995 English Premier Table”. Soccerbase. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  36. ^ “Gary Megson Factfile”. BBC Birmingham. 27 tháng 10 năm 2004. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  37. ^ “Profile: Martin O'Neill”. BBC Sport. 1 tháng 5 năm 2002. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  38. ^ “Martin O'Neill”. BBC Sport. 14 tháng 5 năm 2002. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  39. ^ “Canary Centenary”. Eastern Daily Press. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2007. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  40. ^ a ă “Norwich legend Watling has died”. BBC Sport. 17 tháng 11 năm 2004. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  41. ^ “Mike Walker's managerial career”. Soccerbase. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  42. ^ “Final 1997/1998 Football League Championship Table”. Soccerbase. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  43. ^ “Worthington handed Norwich chance”. BBC Sport. 2 tháng 1 năm 2001. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  44. ^ “Birmingham reach Premiership”. BBC Sport. 12 tháng 5 năm 2002. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  45. ^ “Norwich City win Premiership promotion”. BBC Norfolk. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  46. ^ “Norwich 2004/2005 results and fixtures”. Soccerbase. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  47. ^ “Fulham 6–0 Norwich”. BBC Sport. 15 tháng 5 năm 2005. Truy cập 26 tháng 5 năm 2013. 
  48. ^ “Norwich sack manager Worthington”. BBC Sport. 1 tháng 10 năm 2006. Truy cập 26 tháng 5 năm 2013. 
  49. ^ “Grant appointed as Norwich boss”. BBC Sport. 16 tháng 10 năm 2006. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  50. ^ “Grant adds to backroom staff”. BBC Sport. 12 tháng 2 năm 2007. Truy cập 26 tháng 5 năm 2013. 
  51. ^ “Grant parts company with Canaries”. BBC Sport. 9 tháng 10 năm 2007. Truy cập 26 tháng 5 năm 2013. 
  52. ^ “Norwich name Roeder as new boss”. BBC Sport. 30 tháng 10 năm 2007. Truy cập 26 tháng 5 năm 2013. 
  53. ^ “Roeder sacked as Norwich manager”. BBC Sport. 14 tháng 1 năm 2009. Truy cập 26 tháng 5 năm 2013. 
  54. ^ “Norwich name Gunn boss for season”. BBC Sport. 21 tháng 1 năm 2009. Truy cập 26 tháng 5 năm 2013. 
  55. ^ “Norwich drop down to League One”. BBC Sport. 3 tháng 5 năm 2009. Truy cập 26 tháng 5 năm 2013. 
  56. ^ “Norwich 1 – 7 Colchester”. BBC Sport. 8 tháng 8 năm 2009. Truy cập 26 tháng 5 năm 2013. 
  57. ^ “Manager Gunn sacked by Canaries”. BBC Sport. 13 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2009. 
  58. ^ “Charlton 0–1 Norwich”. BBC Sport. 17 tháng 4 năm 2010. Truy cập 26 tháng 5 năm 2013. 
  59. ^ “Norwich 2–0 Gillingham”. BBC Sport. 24 tháng 4 năm 2010. Truy cập 25 tháng 5 năm 2013. 
  60. ^ Portsmouth 0–1 Norwich BBC Sport, 2 tháng 5 năm 2011, truy cập 26 tháng 5 năm 2013
  61. ^ Osborne, Chris (26 tháng 1 năm 2013). “Norwich 0–1 Luton”. BBC. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013. 
  62. ^ Eastwood. Canary Citizens. tr. 18. 
  63. ^ Eastwood. Canary Citizens. tr. 28–29. 
  64. ^ Eastwood. Canary Citizens. tr. 29. 
  65. ^ Morris, Desmond (1981). The Soccer Tribe. London: Jonathan Cape. tr. 210. ISBN 0-224-01935-X. 
  66. ^ “Norwich City are the men in black – News – Eastern Daily Press”. Edp24.co.uk. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013. 
  67. ^ “Bridewell trail” (PDF). Norfolk Museums. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2009. Truy cập 20 tháng 5 năm 2013. 
  68. ^ Smith, Roger (2004). The Canary Companion. RJS Publishing. tr. 39. ISBN 0-9548287-0-4. 
  69. ^ Richard Moss (20 tháng 12 năm 2002). “ON THE BALL CITY – 100 YEARS OF NORWICH CITY FOOTBALL CLUB”. Truy cập 26 tháng 5 năm 2013. 
  70. ^ “Norwich City grounds – 1. Newmarket Road”. Eastern Daily Press. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2007. Truy cập 28 tháng 5 năm 2013. 
  71. ^ “Norwich City grounds – 2. The Nest”. Eastern Daily Press. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013. 
  72. ^ a ă â “Norwich City grounds – 3. Carrow Road”. Eastern Daily Press. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013. 
  73. ^ Eastwood. Canary Citizens. tr. 63. 
  74. ^ “The highs and lows of City’s rich past”. Norwich Evening News. 10 tháng 5 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013. 
  75. ^ Eastwood. Canary Citizens. tr. 65. 
  76. ^ “Carrow Road”. Norwich City FC. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013. 
  77. ^ “Supporter Groups”. Norwich City FC. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2013. 
  78. ^ “Club history”. Norwich City FC. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2008. 
  79. ^ a ă â “Ladies Team”. Canaries.co.uk. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2012. 
  80. ^ “Historical Football Kits – Norwich City”. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2013. 
  81. ^ “Flybe step downs main sponsor”. Norwich City FC. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013. 
  82. ^ “Aviva to sponsor Norwich City FC”. Aviva. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2013. 
  83. ^ “Aviva extend Canaries sponsorship”. BBC Sport. 1 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013. 
  84. ^ Player profiles, Norwich City Football Club. Truy cập 1 tháng 3 năm 2014.
  85. ^ Norwich City player profiles, The Pink 'Un. Truy cập 1 tháng 3 năm 2014.
  86. ^ Norwich City confirm squad numbers for 2013–14 Premier League campaign, Eastern Daily Press, Truy cập 1 tháng 3 năm 2014
  87. ^ “Greatest Ever Norwich City Team”. pinkun. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2013. 
  88. ^ “So just who was City's top boss?”. Eastern Daily Press. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013. 
  89. ^ “Norwich City F.C. History”. Norwich City FC. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2013. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Canary Citizens by Mike Davage, John Eastwood, Kevin Platt, published by Jarrold Publishing, (2001), ISBN 0-7117-2020-7
  • Norfolk 'n' Good: A Supporter's View of Norwich City's Best-ever Season by Kevin Baldwin, published by Yellow Bird Publishing, (1993), ISBN 0-9522074-0-0
  • Second Coming: Supporter's View of the New Era at Norwich City by Kevin Baldwin, published by Yellow Bird Publishing, (1997), ISBN 0-9522074-1-9
  • Norwich City Miscellany by Edward Couzens-Lake, published by Pitch Publishing, (2010), ISBN 1-905411-70-7
  • Fantasy Football by Edward Couzens-Lake, published by Legends Publishing, (2012), ISBN 978-1906796525
  • Norwich City: Greatest Games by Edward Couzens-Lake, published by Pitch Publishing, (2012), ISBN 978-1908051462

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]