Nouri al-Maliki
| Nouri al-Maliki | |
| Thủ tướng Iraq | |
|---|---|
| Nhiệm kỳ | 20 tháng 5 năm 2006 – |
| Tiền nhiệm | Ibrahim al-Jaafari |
| Bộ trưởng Nội vụ Quyền |
|
| Nhiệm kỳ | 21 tháng 12 năm 2010 – |
| Tiền nhiệm | Jawad al-Bulani |
| Nhiệm kỳ | 20 tháng 5 năm 2006 – 8 tháng 6 năm 2006 |
| Tiền nhiệm | Baqir Jabr al-Zubeidi |
| Kế nhiệm | Jawad al-Bulani |
| Bộ trưởng Quốc phòng Quyền |
|
| Nhiệm kỳ | 21 tháng 12 năm 2010 – |
| Tiền nhiệm | Qadir Obeidi |
| Bộ trưởng An ninh quốc gia Quyền |
|
| Nhiệm kỳ | 21 tháng 12 năm 2010 – |
| Tiền nhiệm | Shirwan al-Waili |
| Đảng | Đảng Dawa Hồi giáo* |
| Sinh | 20 tháng 6, 1950 Al-Hindiya, Iraq |
| Học trường | Đại họcBaghdad |
| Tôn giáo | Hồi giáo Shia |
| Vợ hay chồng | Fareeha Khalil |
| *Một phần của Tình trạng liên hiệp pháp luật | |
Nouri Kamil Mohammed Hassan al-Maliki (tiếng Ả Rập: نوري كامل محمّد حسن المالكي, dịch là Nūrī Kāmil al-Mālikī; sinh 20 tháng 6, 1950), cũng được biết là Jawad al-Maliki, là Thủ tướng Iraq và tổng thư ký của Đảng Hồi giáo Daawa. Nouri al-Maliki là Thủ tướng đầu tiên của Iraq kể từ khi nước này có hiến pháp mới. Trước khi trở thành Thủ tướng, Maliki đã có thời gian dài sống lưu vong nhưng vẫn tham gia các cuộc đấu tranh lật đổ Tổng thống Saddam Hussein.
Maliki cầm quyền thủ tướng trong lúc chiến tranh, tình hình bạo động và mâu thuẫn giữa các sắc tộc vẫn còn. Maliki giữ vững mối quan hệ mật thiết với cả Hoa Kỳ lẫn Iraq và giải quyết tốt vấn đề các phe phái chính trị trong nước. Nhưng vẫn chưa đủ, vì Iraq cần có sự hòa giải giữa các dân tộc. Chính phủ của Maliki tìm cách giảm bạo động và tránh gây ra bất đồng quan điểm với người Kurd, cả việc khôi phục lại nền kinh tế Iraq.
Liên kết ngoài[sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Nouri al-Maliki |