Nowaki (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nowaki
Tàu khu trục Nowaki trên đường đi, 19 tháng 4 năm 1941
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Nowaki
Đặt hàng: 1937
Đặt lườn: 8 tháng 11 năm 1939
Hạ thủy: 17 tháng 9 năm 1940
Nhập biên chế: 28 tháng 4 năm 1941
Xóa đăng bạ: 10 tháng 1 năm 1945
Số phận: Bị tàu khu trục Mỹ Owen đánh chìm phía Đông Nam Legaspi, 26 tháng 10 năm 1944
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Kagerō
Trọng tải choán nước: 2.000 tấn Anh (2.032 t) (tiêu chuẩn)
2.500 tấn Anh (2.540 t) (đầy tải)
Độ dài: 116,20 m (381 ft 3 in) (mực nước)
118,50 m (388 ft 9 in) (chung)
Sườn ngang: 10,80 m (35 ft 5 in)
Mớn nước: 3,76 m (12 ft 4 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước Kanpon
3 × nồi hơi ống nước Kampon
2 × trục
công suất 52.000 mã lực (38,8 MW)
Tốc độ: 35,5 hải lý một giờ (40,9 mph; 65,7 km/h)
Tầm xa: 5.000 nmi (9.300 km) ở tốc độ 18 kn (21 mph; 33 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
239
Vũ trang: 6 × hải pháo Kiểu 3 127 mm/50 caliber (3×2)
28 × pháo 25 mm Kiểu 96 phòng không
4 × pháo phòng không 13 mm Kiểu 95
8 × ống phóng ngư lôi Kiểu 92 (2×4)
16 × ngư lôi 610 mm Kiểu 93
36 × mìn sâu Kiểu 95

Nowaki (tiếng Nhật: 野分) là một tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản thuộc lớp Kagerō đã phục vụ tại Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Vào ngày 3 tháng 3 năm 1942 Nowaki đã giúp vào việc đánh chìm pháo hạm Asheville. Trong Trận chiến ngoài khơi Samar vào ngày 25 tháng 10 năm 1944, Nowaki tham gia tấn công bằng ngư lôi nhắm vào các tàu sân bay hộ tống của Hải quân Mỹ, và giúp vào việc đánh chìm tàu khu trục Johnston. Sau đó, nó giúp di tản những người sống sót khỏi chiếc tàu tuần dương Chikuma rồi đánh đắm nó bằng ngư lôi.

Sau khi bị hư hại bởi hỏa lực hải pháo từ các tàu tuần dương Mỹ vào ngày 26 tháng 10, Nowaki bị đánh chìm bởi ngư lôi phóng từ tàu khu trục Owen, cách 120 km (65 hải lý) về phía Đông Nam Legaspi, ở tọa độ 13°0′B 124°54′Đ / 13°B 124,9°Đ / 13.000; 124.900.

Nowaki được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 10 tháng 1 năm 1945.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 13°0′B 124°54′Đ / 13°B 124,9°Đ / 13.000; 124.900