Malawi
| Dziko la Malaŵi | |||||
|---|---|---|---|---|---|
|
|||||
| Khẩu hiệu | |||||
| Unity and Freedom (tiếng Anh: "") |
|||||
| Quốc ca | |||||
| Mlungu dalitsani Malawi | |||||
| Hành chính | |||||
| Chính phủ | Dân chủ | ||||
| Tổng thống | Joyce Banda | ||||
| Ngôn ngữ chính thức | tiếng Anh, tiếng Chichewa | ||||
| Thủ đô | Lilongwe |
||||
| Thành phố lớn nhất | Blantyre | ||||
| Địa lý | |||||
| Diện tích | 118.480 km² | ||||
| Diện tích nước | 20,6% % | ||||
| Múi giờ | EET (UTC+2) | ||||
| Lịch sử | |||||
| Dân cư | |||||
| Dân số ước lượng (2005) | 12.158.924 người (hạng 67) | ||||
| Dân số (1998) | 9.933.868 người | ||||
| Mật độ | 103 người/km² (hạng 98) | ||||
| Kinh tế | |||||
| GDP (PPP) (2005) | Tổng số: 7,629 tỷ đô la Mỹ | ||||
| HDI (2003) | 0,404 thấp (hạng 165) | ||||
| Đơn vị tiền tệ | Kwacha (D) (MWK) |
||||
| Thông tin khác | |||||
| Tên miền Internet | .mw | ||||
Cộng hòa Malawi (tiếng Chichewa: Dziko la Malaŵi) là một quốc gia tại miền đông châu Phi.
Malawi có life expectancy thấp và tỉ lệ tử vong sơ sinh cao. Tỉ lệ mắc HIV/AIDS tương đối cao, gây tổn hại đến lực lượng lao động và ngân gũy chính phủ, and is expected to have a significant impact on gross domestic product (GDP) by 2010. There is a diverse population of native peoples, Asians and Europeans, with several languages spoken and an array of religious beliefs. Although there was tribal conflict in the past, by 2008 it had diminished considerably and the concept of a Malawian nationality had begun to form. Malawi has a culture combining native and colonial aspects, including sports, art, dance and music.
Mục lục |
Lịch sử [sửa]
{ Các dân tộc của nhóm người Bantu định cư trên lãnh thổ vào giữa thiên niên kỷ thứ 1. Thế kỷ 16 ở đây đã tồn tại vương quốc Malawi, tên đó trở thành tên gọi của đất nước, những người châu Âu đầu tiên đến đây là những nàh truyền giáo Bồ Đào Nha (thế kỷ 17). Năm 1859, nhà thám hiểm Livingstone đã khám phá ra hồ Malawi và đặt tên cho vùng này là Nyassaland, nơi những người Bantu sinh sống và cũng là đối tượng vây ráp và cướp bóc của bọn buôn nô lệ đến từ đảo Zanzibar (đảo thuộc Tanzania). Năm 1891, các hiệp ước đã lập vùng này thành xứ bảo hộ của Anh với tên gọi Trung Phi. Năm 1953, thực dân Anh sáp nhập Nyassaland với Bắc và Nam Rhodesia thành Liên bang Trung Phi.
Năm 1960, Hastings Kamuzu Banda thành lập đảng Đại hội Malawi. Nyassaland tách khỏi Liên bang Trung Phi năm 1962, trở thành quốc gia độc lập và đổi tên thành Malawi năm 1964. Năm 1971, Hastings Kamuza Banda tuyên bố trở thành Tổng thống trọn đời. Malawi duy trì mối quan hệ mật thiết với Nam Phi.
Năm 1993, trước làn sóng phản đối trong nước ngày càng gia tăng, Tổng thống Banda tổ chức cuộc trưng cầu ý dân và chấp nhận thông qua thể chế đa đảng. Năm 1994, Bakili Muluzi, nhà lãnh đạo Mặt trận Dân chủ Thống nhất, đắc cử Tổng thống và tái đắc cử năm 1999. Năm 2000, Muluzi tiến hành chiến dịch chống tham nhũng và những thành quả kinh tế tốt đẹp đã làm hài lòng các nhà đầu tư.
Tổng thống hiện nay của Malawi là Bingu wa Mutharika, được bầu chọn tháng 5 năm 2004. Với những nỗ lực của mình trong việc chống tham nhũng và thúc đẩy phát triển kinh tế, ông Bingu wa Mutharika đã tái đắc cử thêm một nhiệm kỳ tổng thống nữa vào tháng 5 năm 2009 vừa qua. Chính quyền hiện nay của Tổng thống Bingu wa Mutharika đang phải đương đầu với thách thức nghiêm trọng đó là tình trạng tham nhũng, tốc độ tăng dân số cao gây áp lực ngày càng lớn về đất canh tác và sự lây lan của bệnh dịch HIV/AIDS. Về mặt đối ngoại, Chính phủ Malawi đang phải đối mặt với tranh chấp về biên giới hồ Nyasa (Hồ Malawi) và sông Songwe uốn khúc với Tanzania.
Chính trị [sửa]
Malawi là nước cộng hòa tổng thống. Đứng đầu nhà nước và chính phủ là Tổng thống. Tổng thống được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kì 5 năm.
Cơ quan lập pháp là Quốc hội lưỡng viện: Hạ nghị viện gồm 177 thành viên, được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kì 5 năm. Thượng nghị viện gồm 80 thành viên.
Cơ quan tư pháp là Tòa thượng thẩm tối cao; Tòa án cấp cao, chánh án do Tổng thống bổ nhiệm, các thẩm phán cấp dưới được bổ nhiệm dựa trên tư vấn của ủy ban dịch vụ pháp lí.
Vùng và khu hành chính [sửa]
Malawi được chia thành 28 quận, huyện nằm trong 3 khu vực hành chính :
|
|
|
|
Địa lý [sửa]
Nằm ở khu vực Nam Phi, Đông và Đông Bắc giáp Tanzania, Đông Nam và Tây Nam giáp Mozambique, Tây giáp Zambia. Vùng hồ Malawi ở phía Đông chiếm 1/4 diện tích lãnh thổ quốc gia và tiếp giáp với vùng cao nguyên ở phía Tây. Vùng đồng bằng thuộc lưu vực sông Shire ở phía Nam là nơi tập trung đông đúc dân cư.
Kinh tế [sửa]
Malawi là nước nông nghiệp chậm phát triển. Nông nghiệp giữ vai trò chính trong nền kinh tế chiếm khoảng 37% GDP và 85% thu nhập từ xuất khẩu. Lúa, ngô, sắn là các cây lương thực chủ yếu. Thuốc lá, chè, cà phê, đường là các mặt hàng nông sản xuất khẩu. Malawi thuộc nhóm các nước kém phát triển. Kinh tế Malawi phụ thuộc vào sự trợ giúp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và một số quốc gia khác.
Năm 2009, nền kinh tế Malawi gặp nhiều khó khăn do kinh tế toàn cầu suy thoái. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm này chỉ đạt 5.9% so với mức 9.7% vào năm 2008. Tổng sản phẩm quốc nội của Malawi đạt 4,9 tỷ USD. Bước sang năm 2010, kinh tế Malawi đã dần hồi phục với tốc độ tăng trưởng GDP trong năm là 6.5% và đạt mức 5,03 tỷ USD.
Hiện nay, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính của đất nước, thu hút tới 85% lao động nhưng chỉ đóng góp 33,4% GDP của Malawi. Các sản phẩm nông nghiệp chính của nước này là: Thuốc lá, bông, chè, ngô, đường, khoai tây, sắn, lúa miến, đậu, các loại cây lấy củ, chăn nuôi gia súc, nuôi dê.
Nhìn chung, công nghiệp của nước này rất nhỏ bé, lạc hậu và chiếm một tỉ trọng nhỏ trong cơ cấu GDP là 21,7% GDP. Các ngành công nghiệp chủ đạo của Malawi là công nghiệp nhẹ và công nghiệp hàng tiêu dùng.
Về ngoại thương, năm 2010, Malawi xuất khẩu một luợng hàng hoá trị giá 1,19 tỷ đô la Mỹ trong đó các mặt hàng xuất khẩu chính của nước này là thuốc lá (53%), chè, đường, bông, đậu, sản phẩm gỗ, sợi. Các thị truờng xuất khẩu của Malawi là Nam Phi, Mỹ, Đức, Ai Cập, Anh.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Malawi trong năm 2010 là 1,68 tỷ đô la Mỹ với hàng hoá nhập khẩu chủ yếu là lương thực, các sản phẩm dầu mỏ, hàng bán thành phẩm, hàng tiêu dùng, phương tiện vận tải. Các đối tác mà Malawi thường nhập hàng là [[[Cộng hòa Nam Phi|Nam Phi]], Trung Quốc, Ấn Độ, Tanzania và Mỹ.
Tình hình nhân đạo [sửa]
Sức khỏe [sửa]
Dinh dưỡng [sửa]
Quan hệ với nước ngoài [sửa]
Dân số [sửa]
Dân số hiện nay của Malawi là 13,603,181 người. Bao gồm các nhóm sắc tộc người Chewa, Nyanja, Tumbuka, Yao, Lomwe, Sena, Tonga, Ngoni, Ngonde chiếm 75,2% , người châu Á, người châu Âu chiếm 16,2%. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Chichewa và tiếng Anh.
Tôn giáo có Thiên Chúa giáo và Hồi giáo là những tôn giáo chính của quốc gia này trong đó 79,9% dân số theo Thiên Chúa giáo, 12,8% Hồi giáo, và các tôn giáo khác 7.3%,
Về ngôn ngữ Tiếng Chichewa là ngôn ngữ chính thức và tiếng Anh cũng được sử dụng phổ biến trong giao dịch thương mại.
Xem khác [sửa]
Văn hóa [sửa]
Tham khảo [sửa]
Liên kết ngoài [sửa]
Địa lý địa phương [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Malawi. |
|
|||||||||||||||||||||||||||||
