ONE ~Kagayaku Kisetsu e~

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
ONE ~Kagayaku Kisetsu e~
One original game cover.jpg
Bìa ấn bản đầu tiên của visual novel ONE ~Kagayaku Kisetsu e~.
ONE ~輝く季節へ~
Thể loại Drama, Kỳ ảo, Lãng mạn
Bản quyền © Tactics/Nexton
Trò chơi
Phát triển Tactics
Phát hành Tactics (Windows gốc)
KID (PlayStation)
AI System (Memorial Selection)
Nexton (Windows lồng tiếng đầy đủ)
NTT DoCoMo & SoftBank Mobile (FOMA)
KDDI (au)
Kịch bản Hisaya Naoki, Maeda Jun
Minh họa Hinoue Itaru
Âm nhạc Ishisan, M.S, OdiakeS, Orito Shinji, YET11
Thể loại Eroge, Visual novel
Phân hạng EOCS: 18+ (PC & điện thoại di động)
  • CERO: A (PlayStation)
Hệ máy PC, PlayStation, FOMA, au
Phát hành
  • NB 29 tháng 5, 1998 (nguyên bản trên PC)
Tiểu thuyết dài tập
Tác giả Tateyama Midori
Nhà xuất bản MOVIC
Phát hành 31 tháng 8, 19981 tháng 4, 2000
Số tập 4
OVA
Đạo diễn Morino Yōsei
Kịch bản Ohishi Tetsuya
Thiết kế nhân vật Satō Jun
Âm nhạc Soạn nhạc mở đầu: Okazaki Ritsuko
Hãng phim KSS
Cấp phép Flag of the Republic of China Muse Communication
Phát hành 10 tháng 8, 200124 tháng 5, 2002
Thời lượng / tập 27 phút
Số tập 4 (danh sách tập)
OVA
ONE ~True Stories~
Đạo diễn Fukumoto Kan
Sản xuất Eccyu Osamu, Tyikyioh
Kịch bản Ohishi Tetsuya
Thiết kế nhân vật Satō Jun
Âm nhạc Nakamura Tomomi, Hara Yoshirou
Hãng phim Arms
Cấp phép Cờ của Hoa Kỳ Media Blasters
Phát hành 21 tháng 11, 200328 tháng 5, 2004
Thời lượng / tập 30 phút
Số tập 3 (danh sách tập)
Tác phẩm liên quan
Biểu tượng chủ đề Chủ đề Anime và Manga

ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ (Nhật: ONE ~輝く季節へ~? tạm dịch: ONE ~Cho ngày mùa rạng rỡ~) là một visual novel người lớn do Tactics, một thương hiệu thuộc Nexton, phát triển và phát hành tại Nhật Bản vào ngày 29 tháng 5, 1998 trên PC Windows. Trò chơi được nhóm phát triển mô tả như một "AVG thứ hai chạm đến trái tim" (心に届くAVG第二弾 Kokoro ni Todoku AVG Dainidan?).[1] Cốt truyện xoay quanh cuộc sống của Orihara Kōhei, một nam sinh cao trung đã dành nhiều thời gian vui đùa bên những cô bạn cùng tuổi, trong khi cùng lúc bị kéo vào một không gian huyền bí được gọi là Thế giới Vĩnh cữu.

Cách chơi của ONE đi theo một cốt truyện phân nhánh trong đó cung cấp những kịch bản đã được định trước và tiến triển theo lối tương tác, chủ yếu đi sâu vào nội tâm của sáu nhân vật nữ chính. Tác phẩm từng nhiều lần nằm trong tốp 50 PC game bán chạy nhất toàn Nhật Bản. Một phần tiếp theo dựa trên rất ít nội dung của ONE với nhan đề ONE2 ~Eien no Yakusoku~ được BaseSon, một thương hiệu khác thuộc Nexton, sản xuất và ra mắt lần đầu trong tháng 4 năm 2002.

Phần lớn nhân viên tham gia phát triển trò chơi này về sau sáng lập nên thương hiệu visual novel Key. KSS sản xuất chuyển thể anime gồm bốn tập OVA dành cho mọi lứa tuổi từ năm 2001 đến năm 2002. Arms phối hợp cùng Cherry Lips sản xuất tiếp ba tập OVA người lớn mang tựa ONE ~True Stories~ từ năm 2003 đến năm 2004, sau đó xê-ri được cấp phép phân phối bản tiếng Anh bởi Media Blasters. Một số chuyển thể khác bao gồm các hợp tuyển manga, bốn tập tiểu thuyết và một số drama CD cũng được ra mắt.

Cách chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Một đoạn hội thoại thường gặp giữa người chơi và nhân vật Mizuka trong visual novel ONE.

ONE là một visual novel lãng mạn mà trong đó người chơi sẽ vào vai Orihara Kōhei.[2] Gần như toàn bộ thời gian chơi chỉ là đọc những lời tự sựhội thoại. ONE đi theo một cốt truyện phân nhánh với nhiều cái kết khác nhau, và tùy thuộc vào những quyết định người chơi thực hiện trong suốt quá trình thưởng thức mà kịch bản sẽ tiến triển theo một hướng cụ thể.[2]

Có sáu mạch kịch bản chính để người chơi trải nghiệm, mỗi mạch truyện tập trung vào câu chuyện của một nữ chính. Visual novel thường cung cấp những tùy chọn để người chơi lựa chọn xuyên suốt kịch bản, và văn bản sẽ tạm ngưng không chạy tiếp cho đến khi người chơi đã đưa ra quyết định của mình. Để đọc được toàn bộ kịch bản, người chơi phải chơi lại nhiều lần, mỗi lần lại đưa ra các lựa chọn khác nhau để câu chuyện đi tiếp theo một hướng khác. Phiên bản dành cho người lớn (eroge) chứa những CG thể hiện quá trình giao cấu giữa Kōhei và một trong các nữ chính.[2] Về sau, trong các bản tương thích với hệ máy cầm tay và điện thoại di động, những nội dung tình dục này đã bị loại bỏ khỏi game.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết lập[sửa | sửa mã nguồn]

Phần chính trong cốt truyện của ONE diễn ra tại một trường cao trung của Nhật Bản,[2] tuy nhiên toàn cảnh ngôi trường rất ít khi được thể hiện, ngoại trừ lớp của Kōhei, căn tin và vài địa điểm xung quanh. Tòa nhà chính của trường gồm có ba tầng, và mọi người có thể lên tầng thượng một cách dễ dàng, mặc dù cánh cửa dẫn đến đó có treo biển "Cấm vào", nhưng nó không bị khóa bao giờ. Liền kề với tòa nhà chính là phòng sinh hoạt câu lạc bộ. Ranh giới giữa khuôn viên trường học với khu rừng bên cạnh là một hàng lưới mắt cáo. Ngoài khu rừng còn có một công viên với đài phun nước và một thang gác dẫn lên đỉnh đồi. Khác với trường học, khu mua sắm trong thị trấn và con đường đến trường thường ngày của Kōhei xuất hiện nhiều lần, và một địa điểm khác nữa là căn nhà hai tầng của anh.[2]

Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

Từ trái sang phải:
Hàng trên: Mizuka, Rumi và Misaki;
Hàng dưới: Mio, Mayu và Akane – sáu nữ chính trong visual novel.

Người chơi sẽ vào vai Orihara Kōhei, nam chính của ONE. Anh là một nam sinh cao trung sống một cuộc đời bình thường. Anh có thói trêu chọc những cô gái mà mình quen biết, đặc biệt là người bạn thời thơ ấu Nagamori Mizuka, nhưng nói chung trong thâm tâm Kōhei luôn nghĩ những điều tử tế về họ. Mizuka quan tăm săn sóc Kōhei rất chu đáo, và luôn lo lắng khi nghĩ đến việc anh ta đột nhiên có một cô bạn gái. Cô cứ phải thở dài sau những lời bông đùa vô nghĩa của Kōhei. Kōhei gặp một học sinh mới chuyển trường tên là Nanase Rumi, người luôn muốn mình trở thành một "thục nữ toàn diện". Để làm được điều đó, Rumi cư xử thánh thiện với mọi người xung quanh, nhưng lại trở về là chính mình mỗi khi gặp Kōhei, do anh đã để lại trong cô ấn tượng đầu vô cùng tệ hại. Kōhei quen biết một nữ sinh trầm tĩnh cùng lớp là Satomura Akane, người không dễ mở lòng mình ra với bất cứ ai xung quanh, và từ chối mọi sự giúp đỡ của Kōhei. Kōhei gặp Akane lần đầu khi cô đang đứng một mình dưới trời mưa giữa một bãi đất trống, tay cầm chiếc ô màu hồng.[2]

Kōhei gặp một đàn chị lớp trên tên là Misaki Kawana, cô luôn hòa đồng với mọi người và có thể giải bày tâm sự với bất kỳ ai. Kawana bị mất thị giác sau một tai nạn hồi cô còn học tiểu học. Một cô gái câm học lớp dưới tên Kouzuki Mio gặp Kōhei vào hôm sau, người luôn mang theo bên mình một quyển vở nháp để giao tiếp bằng chữ viết. Mio là thành viên của câu lạc bộ kịch nghệ, và mặc dù không thể nói được, cô vẫn thể hiện tốt cảm xúc của mình thông qua nhiều biểu thị phong phú trên nét mặt. Cô gái cuối cùng mà Kōhei quen chỉ mới học sơ trung có tên Shiina Mayu, cô sở hữu một tính cách rất trẻ con và không thích đến trường. Người bạn duy nhất mà Mayu tin tưởng trong cuộc đời là chú chồn sương Myū, đã chết ngay trước khi cô gặp Kōhei và các nữ chính khác.[2]

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Cốt truyện xoay quanh nhân vật chính Orihara Kōhei, anh luôn tin rằng ở thời điểm nào đó trong cuộc đời mình sẽ xảy ra một biến cố lớn làm đảo lộn những tháng ngày đơn điệu hiện tại. Người cha qua đời khi Kōhei còn rất nhỏ, rồi đến lượt em gái Misao và cuối cùng là cả mẹ anh cũng ra đi vĩnh viễn. Chìm sâu trong đau khổ và trầm mặc, anh đến sống cùng dì Yukiko, em của mẹ, vào khoảng mười năm trước khi câu chuyện trong ONE khởi đầu từ ngày 30 tháng 11 năm 1998. Sau khi làm quen với cô bé hàng xóm Nagamori Mizuka, Kōhei tự thu mình vào Thế giới Vĩnh cữu (えいえんの世界 Eien no Sekai?), nơi chỉ tồn tại trong nội tâm của chính anh. Chủ đề quán xuyến liên tục lặp lại trong tác phẩm tập trung vào thế giới nội tâm này, một không gian huyền bí mà không bao giờ được giải thích rõ ràng, và cả các sự tình bên trong cũng không được đề cập đến. Lời nhận xét của nhân vật Hikami Shun trong ấn bản game gốc dường như là manh mối về Thế giới Vĩnh cữu.

Thế giới Vĩnh cữu là nơi tương tự như thế giới bên kia, và nhân bản khác của một người đang chờ đợi họ trong đó. Bất cứ ai cũng có thể tiếp cận Thế giới Vĩnh cữu, nhưng chỉ một lần duy nhất vào thời điểm mà họ đánh mất chính mình ở thế giới thực. Một giao kết có thể cần được thực hiện với ai đó ngoài thế giới thực để mở đường bước vào Thế giới Vĩnh cữu, nhưng ký ức của người kia về giao kết đó sẽ phai mờ dần. Sau giao kết này, vẫn có một khoảng thời gian đặc ân trước khi người đó bước vào Thế giới Vĩnh cữu. Một khi quá trình bày đã bắt đầu, không gì có thể ngăn cản một người vào trong Thế giới Vĩnh cữu, và nếu muốn trở ra thì lại vô cùng khó khăn. Một người khi sắp sang Thế giới Vĩnh cữu sẽ bắt đầu bị quên lãng dần trong vòng một tuần trước khi biến mất hoàn toàn, và khoảng thời gian trước khi người đó bị quên hẳn là khác nhau tùy thuộc vào những người ở lại quan tâm người sắp ra đi đến mức độ nào. Tuy nhiên, họ có thể được nhận ra lại sự tồn tại khi đã quay về thế giới thực. Nếu tình cảm của ai đó ở thế giới thực dành cho người sắp ra đi thật sự mãnh liệt, người này có thể được trả về dương gian trong vòng một năm.

Kōhei đang có cuộc sống rất bình thường ở một trường trung học cùng với Mizuka, và sau đó là sự góp mặt của năm cô gái khác trong suốt câu chuyện. Anh đã tìm hiểu từng người và giúp đỡ họ trong các vấn đề nội tâm. Mặc dù thích đùa giỡn và trêu chọc những cô gái này, sâu trong tim Kōhei luôn rất quan tâm và lo lắng cho họ. Theo kịch bản, Kōhei đã lần lượt tạo các mối quan hệ thân thiết với sáu nữ chính, đó là: Nagamori Mizuka, Nanase Rumi, Kawana Misaki, Kouzuki Mio, Shiina Mayu và Satomura Akane. Mặc cho những tình cảm rất tốt đẹp giữa họ và Kōhei, những người xung quanh cũng bắt đầu quên mất sự tồn tại của anh khi anh dần tiến sâu hơn vào Thế giới Vĩnh cữu. Vào thời điểm đã rơi hoàn toàn vào đó, ngoài thế giới thực Kōhei dường như chưa bao giờ tồn tại. Nếu Kōhei đã tạo dựng được mối quan hệ đủ sâu đậm với một trong các nữ chính, cô ấy vẫn sẽ nhớ ra anh. Điều này cuối cùng giúp Kōhei trở về dương gian sau một năm và đoàn tụ với những người thân yêu của mình.

Phát triển và phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ là tác phẩm thứ ba của Tactics, sau MOON.Dōsei. Đứng đầu dự án sản xuất ONE là YET11, nghệ danh của Yoshizawa Tsutomu, người cũng sáng tác một số nhạc phẩm trong trò chơi. Kế hoạch phát triển do Maeda Jun phụ trách; ông là một trong hai nhà biên kịch cùng với đồng nghiệp Hisaya Naoki.[3] Maeda viết kịch bản cho Mizuka, Rumi và Mayu, còn Hisaya viết mạch truyện của Misaki, Mio và Akane. Hinoue Itaru làm chỉ đạo nghệ thuật kiêm đồ họa vi tính với sự hỗ trợ của Miracle Mikipon và Shinory. Ngoài YET11, âm nhạc trong game được soạn bởi Orito Shinji, OdiakeS, M.S và Ishisan.[3]

ONE được ra mắt lần đầu vào ngày 29 tháng 5, 1998 dưới cả hai hình thức giới hạn và thông thường dành cho PC Windows 95 sử dụng ổ CD-ROM;[1] ấn bản giới hạn còn kèm thêm đĩa soundtrack nguyên bản đầu tiên của trò chơi.[1] Cả ấn bản giới hạn lẫn thông thường của phiên bản gốc này đều không có tính năng lồng tiếng nhân vật. Ngày 1 tháng 4 năm 1999, KID phát hành hai ấn bản giới hạn và thông thường dành cho mọi lứa tuổi, chơi trên hệ máy PlayStation (PS) dưới nhan đề Kagayaku Kisetsu e; các nhân vật được lồng tiếng đầy đủ trong phiên bản PS.[4] Ngày 14 tháng 9 năm 2000, AI System tung ra ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Memorial Selection,[5] đơn giản là tái bản ấn bản đầu tiên của visual novel, nhưng có giá thành rẻ hơn khoảng một nửa so với giá gốc. Ngày 24 tháng 1 năm 2003, ấn bản Windows lồng tiếng đầy đủ của game được NEXTON ra mắt, trong đó hỗ trợ khả năng tương thích với Windows 98/Me/2000/XP.[6] Kōhei đã không được lồng tiếng trong mọi bản phát hành.

ONE trở lại vào ngày 9 tháng 2 năm 2007, lần này trên điện thoại di động FOMA qua một chương trình Java của NTT DoCoMo.[7] Phiên bản điện thoại di động thứ hai là trên au, phát hành ngày 1 tháng 3, 2007 bởi KDDI.[8] SoftBank Mobile tiếp tục tung ra phiên bản điện thoại di động thứ ba của ONE cũng trên FOMA vào ngày 2 tháng 5, 2007. Lần phát hành mới nhất bởi NEXTON là vào ngày 1 tháng 6, 2007 cho ấn bản PC được hỗ trợ thêm Windows Vista.[9] Gyutto ra mắt thêm một ấn bản lồng tiếng đầy đủ và tương thích Vista của ONE vào ngày 26 tháng 2, 2010 ở dạng tải về trực tuyến.[10] Phiên bản PlayStation và các phiên bản di động phát hành bởi KDDI và SoftBank Mobile không chứa nội dung người lớn. Video quảng cáo trò chơi hiện vẫn có thể tải về từ website ONE của Tactics.[1]

Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Ấn phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Bốn quyển tiểu thuyết người lớn dựa trên visual novel, viết bởi Tateyama Midori, do MOVIC ấn hành từ tháng 8 năm 1998 đến tháng 4 năm 2000.[11] Mỗi tập tiểu thuyết tập trung vào một nữ chính trong nguyên tác, lần lượt từ tập một đến tập bốn là Mizuka, Akane, Misaki và Rumi. Một artbook dày 143 trang gồm các tác phẩm nghệ thuật trong MOON.ONE mang tựa Tactics MOON. & ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Settei Genga-shū (タクティクスMOON.&ONE~輝く季節へ~設定原画集?) được Compass xuất bản vào tháng 10 năm 1998.[12] Tháng 10 năm 1999, Aspect phát hành một artbook khác dày 95 trang dành cho ONE phiên bản PS.[13]

Compass cũng phát hành một hợp tuyển manga mang tựa Tactics Anthology Comic ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Chapter vào tháng 5 năm 1999.[14] Hai tập trong bộ hợp tuyển ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Comic Anthology được MOVIC xuất bản vào tháng 10 và tháng 12 năm 1999.[15][16] Ohzora phát hành năm quyển tuyển tập manga: ba quyển trong một xê-ri, và hai quyển cuối là những tập đơn mang nội dung riêng lẽ. Loạt truyện ba tập có tên ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Anthology Comics, phát hành từ tháng 5 năm 2002 đến tháng 2 năm 2003.[17][18] Tập đơn đầu tiên có tựa ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Dōjin Selection, ra mắt trong tháng 9 năm 2003,[19] và tập đơn thứ hai là Hidamari ONE ~Kagayaku Kisetsu e~, ra mắt vào tháng 1 năm 2004.[20]

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

ONE được chuyển thể thành hai loạt OVA. Loạt đầu tiên dành cho mọi lứa tuổi do KSS sản xuất; bốn đĩa DVD đã phát hành ở Nhật Bản từ ngày 10 tháng 8, 2001[21] đến 24 tháng 5, 2002.[22] Loạt OVA mọi lứa tuổi không bám sát nội dung visual novel nguyên tác của ONE và được xây dựng lại theo một thiết lập khác. Loạt OVA thứ hai dành cho người lớn, sản xuất bởi ArmsCherry Lips với tựa đề ONE ~True Stories~. Ba đĩa DVD chứa nội dung từng tập ra mắt từ ngày 21 tháng 11, 2003[23] đến 28 tháng 5, 2004.[24] ONE ~True Stories~ sau đó được Media Blasters cấp phép phân phối bản tiếng Anh và ba tập phim được giới thiệu chung trong một đĩa phát hành ngày 16 tháng 8, 2005.[25]

Âm nhạc và CD âm thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Bản nhạc chủ đề chính duy nhất của ONE cũng chính là nhạc phẩm kết thúc visual novel "Kagayaku Kisetsu e" (輝く季節へ?) do Orito Shinji sáng tác. Năm nhân vật nữ chính trong tác phẩm có các nét chủ đạo thuộc thể loại nhạc nền, ngoại trừ Mayu.[26] Bài của Mizuka là "Happiki no Neko" (8匹のネコ?); bài của Rumi là "Otome Kibō" (乙女希望?); bài của Misaki là "Mitame wa Ojō-sama" (見た目はお嬢様?); bài của Mio là "Mujaki ni Egao" (無邪気に笑顔?); cuối cùng là bài của Akane có tựa đề "Niji o Mita Shōkei" (虹をみた小径?).[26] Soundtrack nguyên bản đầu tiên của trò chơi phát hành ngày 6 tháng 12, 1998 và soundtrack thứ hai ra mắt ngày 24 tháng 9, 1999 như một album biến tấu piano.[27] Một album phối lại mang tựa Sea Roars được gói kèm theo ấn bản Windows lồng tiếng đầy đủ của game vào ngày 24 tháng 1, 2003.[6]

Ba đĩa drama CD dựa trên visual novel nguyên tác do MOVIC sản xuất và phát hành từ ngày 6 tháng 11, 1999 đến 30 tháng 1, 2000.[28] Hai drama CD khác dựa trên chuyển thể OVA mọi lứa tuổi được ra mắt bởi KSS trong tháng 11 năm 2001 và tháng 7 năm 2002.[29][30] Những nhạc phẩm nguyên bản của loạt OVA mọi lứa tuổi được phát hành trong album ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Music from the Animation (còn được gọi là ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Vocal Mini album)[31] vào ngày 10 tháng 8, 2001 bởi KSS.[32] ChamberRecords/HOBiRECORDS phát hành soundtrack nguyên bản của ONE ~True Stories~ vào ngày 21 tháng 11, 2003.[33]

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Doanh số và đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Theo một bảng xếp hạng doanh số các tựa bishōjo game trên toàn Nhật Bản, ấn bản Windows ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Memorial Selection đã được xếp hạng bảy lần trong những thời điểm khác nhau. Trò chơi xuất phát ở vị trí thứ Sáu trong bảng xếp hạng suốt hai tuần đầu tháng 9 năm 2000.[34] Trong hai tuần đầu tháng Giêng năm 2001, Memorial Selection giữ hạng #30,[34] và một tháng sau đó trong hai tuần đầu tháng 2, nó xếp hạng #38.[35] Memorial Selection tái xuất ở vị trí #41 từ cuối tháng 2 đến cuối tháng 3 năm 2001,[36] và hai tuần kế tiếp giữ hạng #32.[36] Trò chơi có mặt trong bảng thành tích trên một lần nữa từ ngày 7 đến 20 tháng 5 năm 2001, xếp hạng #47,[37] và lần cuối cùng là trong hai tuần đầu tháng 7 năm 2001, chiếm vị trí #37.[38] Ấn bản lồng tiếng đầy đủ của ONE trên Windows xuất phát ở hạng #12 trong trong tốp 50,[39] và rơi xuống hạng #40 trong hai tuần kế tiếp.[39] Trong tháng tiếp theo, ấn bản này giữ vị trí #60 trong bảng xếp hạng, và lần cuối nó xuất hiện là khi đang giữ hạng #44.[40]

Chuyển thể OVA mọi lứa tuổi của ONE chịu những đánh giá có phần tiêu cực của nhà phê bình Carlos Ross trên trang THEM Anime Reviews. Tuy vẻ ngoài trông "dễ thương", ông chê trách các nhân vật "không có những tính cách nào phá vỡ được khuôn sáo tiêu chuẩn của [thể loại] mô phỏng hẹn hò". Dù vậy, Ross đánh giá cao phong cách nghệ thuật, với lời bình "khá đẹp, có phong cách theo kiểu truyền thống hơn là CG."[41] Nhà phê bình Chris Beveridge trên Mania.com đã nhận xét về loạt OVA người lớn ONE ~True Stories~ như sau: "ONE ~True Stories~ là thể loại phù hợp cho người mới xem [anime] hay cho các cặp đôi khi vừa chú trọng vào cốt truyện và cảm xúc nhân vật lại vừa [chú trọng] vào sex, nếu không nói là còn nhiều hơn thế." Nhân vật được nhìn nhận "có sức hút", còn cốt truyện được miêu tả là "hoang đường nhưng là sự hoang đường đáng yêu."[25]

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi phát hành ONE ~Kagayaku Kisetsu e~, phát triển viên YET11 của trò chơi là nhân viên duy nhất ở lại thực hiện các tựa game sau đó của Tactics, chẳng hạn như visual novel Suzu ga Utau Hi, trò chơi thứ tư của công ty ra mắt năm 1999[42]. Toàn bộ các nhân viên sản xuất khác của ONE, cũng như người chị của nó là MOON., đã rời khỏi Tatics và thành lập công ty Key, một thương hiệu của Visual Art's, nơi họ cho ra đời siêu phẩm Kanon vào năm 1999[43]. Chịu ảnh hưởng từ visual novel To Heart của Leaf phát hành năm 1997, những nhân viên phát triển ONE đã áp dụng vào trò chơi một khái niệm mới: mở đầu là những khoảnh khắc lãng mạn nồng ấm xen lẫn hài hước, kế đến là nỗi đau của sự chia cắt và mất mát, cuối cùng là sự tái hợp của những khung bậc cảm xúc; đây gọi là nhánh "crying game" (game khóc) của dòng bishōjo, mà sau này đã giúp tạo ra thể loại Nakigē (泣きゲー?) và phát triển thành một hướng đi mới cho các visual novel đời kế tiếp[44][45]. Sau khi Key ra đời, họ tiếp tục mang khái niệm này đến với các sản phẩm của công ty, điển hình là Kanon, AIRCLANNAD.

Một phần kế tiếp được phát triển dựa theo kịch bản gốc của visual novel ONE mang tựa ONE2 ~Eien no Yakusoku~ (ONE2 ~永遠の約束~? tạm dịch: ONE2 ~Lời hứa Vĩnh cửu~) do công ty BaseSon, một thương hiệu khác của Nexton, thực hiện. ONE2 phát hành ngày 26 tháng 4, 2002 và tái bản vào ngày 25 tháng 4, 2003 với phần lồng tiếng được thêm vào[46][47]. ONE2 cũng sử dụng khái niệm Eternal World làm hướng đi chính như ONE. Eternal World trong trò chơi này được giải thích rõ ràng hơn tiền thân của nó, mặc dù hai trò chơi này có kịch bản khác nhau theo mức độ nhất định do các nhà biên kịch của ONE không tham gia sản xuất ONE2.

Các nhân vật trong ONE đã xuất hiện trong một số sản phẩm truyền thông khác không liên quan đến sê-ri. Sáu nhân vật nữ chính trong ONE đã góp mặt trong dōjin game Eternal Fighter Zero của hãng Twilight Frontier[48]. Ngoài ra, nhân vật Nanase Rumi cũng xuất hiện như một nhân vật nền trong một vài tập của sê-ri anime chuyển thể Kanon do Kyoto Animation sản xuất[49][50][51][52]. Hinoue Itaru, chỉ đạo nghệ thuật của ONE (nay đã là nhân viên của Key), đã thêm các hình ảnh từ ONE vào cuốn artbook White Clover: Itaru Hinoue Art Works phát hành năm 2009 của bà[53].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b “Tactics最新情報” [Tin mới Tactics] (bằng tiếng Nhật). Tactics. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  2. ^ a ă â b c d đ タクティクスMOON.&ONE~輝く季節へ~設定原画集 [Bộ sưu tập hình ảnh thiết lập nguyên bản Tactics MOON. & ONE ~Kagayaku Kisetsu e~] (bằng tiếng Nhật). Compass. Tháng 10 năm 1998. ISBN 978-4-87763-014-0. 
  3. ^ a ă “ONE ~輝く季節へ~ ErogameScape-エロゲー批評空間-” [ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ ErogameScape - Phòng phê bình Eroge -] (bằng tiếng Nhật). ErogameScape. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2007. 
  4. ^ “輝く季節へ” [Kagayaku Kisetsu e] (bằng tiếng Nhật). KID. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2007. 
  5. ^ “ONE ~ 輝く季節へ ~ メモリアルセレクション もういちど君に逢いたい” [ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Memorial Selection Anh muốn được gặp em một lần nữa] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009. 
  6. ^ a ă “ONE~輝く季節へ~フルボイスバージョン” [ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Ấn bản lồng tiếng đầy đủ] (bằng tiếng Nhật). Nexton. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  7. ^ “D-Dreamプラチナ館 - メンズ” [Nhà D-Dream Platinum - Men's] (bằng tiếng Nhật). D-Dream. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009. 
  8. ^ “i-mode & EZweb & Yahoo!ケータイ公式・美少女ゲーム専門ポータルサイト ◆◆ 美少女遊び ◆◆” [Trang di động chính thức - Cổng thông tin chuyên về bishōjo game i-mode & EZweb & Yahoo! ◆◆ Chơi bishōjo ◆◆] (bằng tiếng Nhật). Galplay. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  9. ^ “ONE ~輝く季節へ~ vista動作確認版” [ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Phiên bản xác nhận hoạt động trên Vista] (bằng tiếng Nhật). Comshop. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2007. 
  10. ^ “ONE~輝く季節へ~ VISTA動作確認版” [ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Phiên bản tương thích Vista] (bằng tiếng Nhật). Gyutto. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2012. 
  11. ^ “MOVIC出版課第二編集部Web Site.書籍紹介” [MOVIC Publication Second Editorial Department Web Site.Book Introduction] (bằng tiếng Nhật). MOVIC. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  12. ^ “タクティクスMOON.&ONE~輝く季節へ~設定原画集” [Bộ sưu tập hình ảnh thiết lập nguyên bản Tactics MOON. & ONE ~Kagayaku Kisetsu e~] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2012. 
  13. ^ “輝く季節へビジュアルファンブック (ASPECT CUTE)” [Kagayaku Kisetsu e Visual Fan Book (ASPECT CUTE)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  14. ^ “タクティクス アンソロジーコミック ONE~輝く季節へ~編 (単行本)” [Tactics Anthology Comic One: Kagayaku Kisetsu e Chapter (Tankōbon)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  15. ^ “ONE~輝く季節へ~コミックアンソロジー (単行本)” [One: Kagayaku Kisetsu e Comic Anthology (Tankōbon)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  16. ^ “ONE~輝く季節へ~コミックアンソロジー (2) (単行本)” [One: Kagayaku Kisetsu e Comic Anthology (2) (Tankōbon)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  17. ^ “ONE~輝く季節へ~―アンソロジーコミックス (ミッシィコミックス) (コミック)” [One: Kagayaku Kisetsu e Anthology Comics (Misshii Comics) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  18. ^ “ONE~輝く季節へ~ 3―アンソロジーコミック (ミッシィコミックス ツインハートコミックスシリーズ) (コミック)” [One: Kagayaku Kisetsu e 3 Anthology Comic (Misshii Comics Twin Heart Comics Series) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  19. ^ “ONE~輝く季節~―同人セレクション (ミッシィコミックス ツインハートコミックスシリーズ) (コミック)” [One: Kagayaku Kisetsu e Dōjin Selection (Misshii Comics Twin Heart Comics Series) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  20. ^ “陽だまりONE~輝く季節へ (ミッシィコミックス ツインハートコミックスシリーズ) (コミック)” [Hidamari One: Kagayaku Kisetsu e (Misshii Comics Twin Heart Comics Series) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  21. ^ “ONE~輝く季節へ~ 第一巻 雨の章 茜・詩子 (DVD)” [ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Đĩa 1 "Ame no Shō" Akane/Shiiko (DVD)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009. 
  22. ^ “ONE~輝く季節へ~ 第4巻 桜の章 瑞佳・繭 (DVD)” [ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Đĩa 4 "Sakura no Shō" Mizuka/Mayu (DVD)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009. 
  23. ^ “ONE~輝く季節へ~True Stories 1 (DVD)” [ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ True Stories 1 (DVD)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009. 
  24. ^ “ONE~輝く季節へ~True Stories 3 (DVD)” [ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ True Stories 3 (DVD)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009. 
  25. ^ a ă “One: True Stories” (bằng tiếng Anh). Mania. 21 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2009. 
  26. ^ a ă ONE ~Kagayaku Kisetsu he~ Original Soundtrack (booklet) (bằng tiếng Nhật). Ishisan, M.S, OdiakeS, Orito Shinji, YET11. Tokyo: MOVIC. 1998. MGM-001. 
  27. ^ “MOVIC出版課第二編集部Web Site.CDのご紹介” [MOVIC Publication Second Editorial Department Web Site.CD Introduction] (bằng tiếng Nhật). MOVIC. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  28. ^ “MOVIC出版課第二編集部Web Site.CDのご紹介” [MOVIC Publication Second Editorial Department Web Site.CD Introduction] (bằng tiếng Nhật). MOVIC. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  29. ^ “ONE~輝く季節へ~ドラマCD” [ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Drama CD] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  30. ^ “ONE 輝く季節へ~miniature~” [ONE Kagayaku Kisetsu e ~miniature~] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  31. ^ “ONE~輝く季節へ~Vocal Mini album” [ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Vocal Mini album] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  32. ^ “ONE 輝く季節へ Music from The Animation” [ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Music from the Animation] (bằng tiếng Nhật). Jbook. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  33. ^ “ONE ~輝く季節へ~ True Stories オリジナルサウンドトラックアルバム” [ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ True Stories Original Soundtrack Album] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  34. ^ a ă “PC News national ranking for bishōjo games; One ranks 1 and 30” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  35. ^ “PC News national ranking for bishōjo games; One ranks 38” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  36. ^ a ă “PC News national ranking for bishōjo games; One ranks 41” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  37. ^ “PC News national ranking for bishōjo games; One ranks 47” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2008. 
  38. ^ “PC News national ranking for bishōjo games; One ranks 37” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  39. ^ a ă “PC News national ranking for bishōjo games; One ranks 12 and 40” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  40. ^ “PC News national ranking for bishōjo games; One ranks 60 and 44” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  41. ^ Ross, Carlos. “One: To The Shining Season” (bằng tiếng Anh). THEM Anime Review. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2014. 
  42. ^ “鈴がうたう日 ~a story of Angelic Girl, arrived the SunnyField.~ ErogameScape-エロゲー批評空間-” [Suzu ga Utau Hi ~a story of Angelic Girl, arrived the SunnyField.~ ErogameScape - Eroge Commentary Room -] (bằng tiếng Nhật). ErogameScape. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2009. 
  43. ^ “Kanon ErogameScape-エロゲー批評空間-” [Kanon ErogameScape - Eroge Commentary Room -] (bằng tiếng Nhật). ErogameScape. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2009. 
  44. ^ Todome Satoshi. “A History of Adult Games, chapter 3”. kyo-kan.net (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2007. 
  45. ^ “A History of Eroge: Chapter Three - "Crying games" hit the standard” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2008. 
  46. ^ “ONE2 ~永遠の約束~” [One2: Eien no Yakusoku] (bằng tiếng Nhật). BaseSon. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2007. 
  47. ^ “ONE2 with VOICE” (bằng tiếng Nhật). BaseSon. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2007. 
  48. ^ Twilight Frontier. Eternal Fighter Zero (bằng tiếng Nhật) PC. Twilight Frontier. 
  49. ^ Kyoto Animation (2007-01-25). "The Lieder ohne Worte Between the Elder and the Younger Sister" (bằng tiếng Nhật). Kanon. TBS. 
  50. ^ Kyoto Animation (2007-02-01). "The Disappearing Adagio" (bằng tiếng Nhật). Kanon. TBS. 
  51. ^ Kyoto Animation (2007-02-08). "The Contact Étude" (bằng tiếng Nhật). Kanon. TBS. 
  52. ^ Kyoto Animation (2007-02-22). "The Ronde Without You" (bằng tiếng Nhật). Kanon. TBS. 
  53. ^ White Clover: Itaru Hinoue Art Works. Visual Art's. 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]