Octavio Paz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Octavio Paz
Sinh 31 tháng 3 năm 1914
Thành phố Mexico, Mexico
Mất 19 tháng 4 năm 1998 (84 tuổi)
Thành phố Mexico, Mexico
Công việc Nhà văn, Nhà thơ, Nhà ngoại giao.
Quốc gia Mexico Flag of Mexico.svg
Giai đoạn sáng tác 1931 - 1965
Giải thưởng nổi bật Giải Jerusalem năm 1977
Giải văn học quốc tế Neustadt năm 1982
Giải Hòa bình của ngành kinh doanh sách Đức năm 1984
giải Nobel Văn học năm 1990


Octavio Paz Lozano (31 tháng 3 năm 1914 - 19 tháng 4 năm 1998) là nhà thơ, nhà văn Mexico đoạt giải Nobel Văn học năm 1990.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Octavio Paz sinh tại Thành phố Mexico. Là con một nhà báo nổi tiếng (Octavio Paz Solórzano), ông từ nhỏ đã đọc các tác phẩm của văn học thế giới, mười tuổi đã in thơ, 19 tuổi xuất bản tập thơ Luna Silvestre (Trăng hoang) khi đang học luật tại Đại học Quốc gia Mexico. 22 tuổi, ông sang Tây Ban Nha hoạt động xã hội, viết bài chống phát xít; năm 1939 trở về Mexico viết báo và đấu tranh cho quyền lợi người lao động. Năm 1943, ông sang nghiên cứu văn hóa Mỹ với tư cách nghiên cứu sinh được học bổng của tổ chức Guggenheim. Thời kỳ này, Paz cho ra đời những tập thơ trữ tình đầy chất trí tuệ, hình tượng ẩn dụ như Raiz del hombre (Cội rễ con người), Entre la piedra y flora (Giữa đá và hoa), Libretad bajo palabra (Tự do dưới lời thề)...

Năm 1945, ông bắt đầu hoạt động ngoại giao ở Liên Hiệp Quốc, làm đại sứ tại Pháp, Nhật Bản, Ấn Độ... Năm 1968, ông từ chức để phản đối chính quyền Mexico đàn áp sinh viên, trở về nước tiếp tục viết văn. Năm 1972, Octavio Paz trở thành thành viên Viện Hàn lâm Mexico; năm 1981 được trao giải Miguel de Cervantes. Năm 1984 nhà nước Mexico tổ chức mừng thọ ông kéo dài 5 ngày liên tục. Paz là nhà văn viết nhiều về những vấn đề của văn hóa, văn học, những suy ngẫm của ông được viết bằng một ngôn ngữ phóng khoáng, mang đậm chất thơ ca, hướng về quá khứ lịch sử và cuộc sống của ngày hôm nay. Ông được đánh giá là một trong những nhà thơ uy tín nhất viết bằng tiếng Tây Ban Nha.

Ông được tặng Giải Jerusalem năm 1977, Giải văn học quốc tế Neustadt năm 1982, Giải Hòa bình của ngành kinh doanh sách Đức năm 1984. Năm 1990, ông được trao giải Nobel với toàn thể 15 phiếu đồng tình, một điều chưa từng thấy trong lịch sử giải[cần dẫn nguồn]. Paz mất tại Thành phố Mexico.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Luna silvestre (Vầng trăng màu ánh bạc, 1933), thơ
  • Raiz del hombre (Cội rễ con người, 1937), thơ
  • Entre la piedra y flora (Giữa đá và hoa, 1941), thơ
  • A la orilla del mundo (Nơi tận cùng thế giới, 1942),
  • Libretad bajo palabra (Tự do dưới lời thề, 1948), thơ
  • El laberinto de la soledad (Mê cung của nỗi cô đơn, 1950), biên khảo
  • Aguila o sol (Chim đại bàng hay mặt trời, 1951), thơ
  • El arco y la lira (Cây cung và đàn Lyre, 1956), biên khảo về thơ
  • Las peras del olmo (Bóng mát cây du, 1957), phê bình văn học
  • Piedra del sol (Đá mặt trời, 1957), trường ca
  • Salamandra (1962), thơ
  • Corriente alterna (Dòng điện xoay chiều, 1967), tiểu luận
  • Blanco (1967), thơ
  • East slope (Miền dốc phía Đông, 1968), thơ
  • El castillo de la pureza (Lâu đài thanh khiết, 1968), tiểu luận
  • Ladera Este (Bờ phía Đông, 1969), thơ
  • La centena (Lúa mạch, 1969), thơ
  • Posdata (Những dòng tái bút, 1970), khảo cứu
  • Topoemas (Các hình thể, 1971), thơ
  • Los hijos del limo (Những đứa trẻ bùn lầy, 1974), tiểu luận
  • El mono gramatico (Nhà ngữ pháp khỉ, 1974), thơ

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Óyeme como quien oye llover
 
Óyeme como quien oye llover,
ni atenta ni distraída,
pasos leves, llovizna,
agua que es aire, aire que es tiempo,
el día no acaba de irse,
la noche no llega todavía,
figuraciones de la niebla
al doblar la esquina,
figuraciones del tiempo
en el recodo de esta pausa,
óyeme como quien oye llover,
sin oírme, oyendo lo que digo
con los ojos abiertos hacia adentro,
dormida con los cinco sentidos despiertos,
llueve, pasos leves, rumor de sílabas,
aire y agua, palabras que no pesan:
lo que fuimos y somos,
los días y los años, este instante,
tiempo sin peso, pesadumbre enorme,
óyeme como quien oye llover,
relumbra el asfalto húmedo,
el vaho se levanta y camina,
la noche se abre y me mira,
eres tú y tu talle de vaho,
tú y tu cara de noche,
tú y tu pelo, lento relámpago,
cruzas la calle y entras en mi frente,
pasos de agua sobre mis párpados,
óyeme como quien oye llover,
el asfalto relumbra, tú cruzas la calle,
es la niebla errante en la noche,
como quien oye llover
es la noche dormida en tu cama,
es el oleaje de tu respiración,
tus dedos de agua mojan mi frente,
tus dedos de llama queman mis ojos,
tus dedos de aire abren los párpados del tiempo,
manar de apariciones y resurrecciones,
óyeme como quien oye llover,
pasan los años, regresan los instantes,
¿oyes tus pasos en el cuarto vecino?
no aquí ni allá: los oyes
en otro tiempo que es ahora mismo,
oye los pasos del tiempo
inventor de lugares sin peso ni sitio,
oye la lluvia correr por la terraza,
la noche ya es más noche en la arboleda,
en los follajes ha anidado el rayo,
vago jardín a la deriva
entra, tu sombra cubre esta página.
 
Dos cuerpos
 
Dos cuerpos frente a frente
son a veces dos olas
y la noche es océano.
 
Dos cuerpos frente a frente
son a veces dos piedras
y la noche desierto.
 
Dos cuerpos frente a frente
son a veces raíces
en la noche enlazadas.
 
Dos cuerpos frente a frente
son a veces navajas
y la noche relámpago.
 
Dos cuerpos frente a frente
son dos astros que caen
en un cielo vacío.
 
Palpar
 
Mis manos
abren las cortinas de tu ser
te visten con otra desnudez
descubren los cuerpos de tu cuerpo
Mis manos
inventan otro cuerpo a tu cuerpo.
Nghe anh như là nghe mưa
 
Hãy nghe anh như là nghe mưa
và hãy nghe anh – một chút hững hờ –
nước, như không khí, rơi tí tách, xào xạc
và như không khí, thời gian
ngày không tàn
đêm không đến
cái mặt nạ hoàng hôn
treo sau cổng
cái mặt nạ thời gian
trong nếp gấp của dòng thơ kìm hãm
hãy nghe anh như là nghe mưa
em hãy lắng nghe mà chẳng nghe ra
vào chính bản thân mình, em hãy ngắm
rồi thiếp ngủ khi canh chừng tình cảm
tí tách mỗi giọt lời
lời nhẹ tênh, còn nước đang sôi:
ta là những người đã từng, là những người đang sống
giây phút này và năm tháng
thời gian nhẹ hơn, nỗi buồn không biết lấy gì đo
hãy nghe anh như là nghe mưa
tất cả ánh lên như nhựa đường ẩm ướt
bốc lên, rồi bơi trong hơi nước
màn đêm buông xuống bằng hình dáng của em
bằng đôi mắt của em nhìn vào anh
còn đêm giống như khuôn mặt
của tia chớp, bập bềnh trên mái tóc
chạy qua đường, em đến với anh
từng giọt nước rơi từ thế kỷ của mình…
hãy nghe anh như là nghe mưa
em đi qua đường phố sương mờ
đó là màn sương bơi trên đường phố
đó là đêm trên chiếc giường em đó
là con sóng vỗ bờ trong hơi thở của em
những ngón tay em ép vào mắt, vào vầng trán của anh
những ngón tay em mí mắt của thời gian đang mở
những ngày cuối tuần, những lần gặp gỡ
hãy nghe anh như là nghe mưa
năm tháng đi qua
rồi lại về trong từng khoảnh khắc thôi mà
em có nghe ra tiếng bước chân của mình đâu đó?
ta nghe tiếng bước chân cả nơi này, nơi nọ
cả bây giờ, cả trong ngày tháng xa xăm
em hãy nghe bước chân của thời gian
trên những con đường không còn dấu vết
em hãy nghe trên thềm mưa rơi tí tách
đêm đang chuyển màu hồng
tia sáng bện vào chiếc lá như tổ ong
khu vườn rùng mình thức dậy
Em hãy bước vào
bóng của em nằm trên trang giấy[1].
 
Hai thân thể
 
Hai thân thể đối mặt nhau
Như hai con sóng bạc đầu
Và đêm là biển cả.
 
Hai thân thể đối mặt nhau
Đôi khi là hai hòn đá
Và đêm là sa mạc hoang vu.
 
Hai thân thể đối mặt nhau
Đôi khi là hai bộ rễ
Đêm đêm vấn vít vào nhau.
 
Hai thân thể đối mặt nhau
Đôi khi là hai con dao
Và đêm đêm sấm chớp.
 
Hai thân thể đối mặt nhau
Đôi khi là hai ngôi sao
Rơi trong một bầu trời rỗng.
 
Ve vuốt
 
Bàn tay anh
Vén tung bức màn trên cơ thể của em
Mặc vào cho em một vẻ trần trụi mới
Tìm những cơ quan trong thân thể của em.
Bàn tay anh
Bày đặt cho em một thân thể mới.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Octavio Paz quả là khó cảm nhận. Có thể, chìa khóa để hiểu thơ ông là chính những lời ông: “Hiểu thơ - trước hết là phải nghe thơ. Đọc thơ - nghĩa là nghe bằng mắt; nghe thơ - nghĩa là đọc bằng tai. Thơ phải khiêu khích người đọc, buộc người đọc phải lắng nghe – và nghe ra”.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]