Octavio Paz
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
![]() ' |
|
| Sinh ngày: | 31 tháng 3 năm 1914 tại Thành phố Mexico, Mexico |
|---|---|
| Mất ngày: | 19 tháng 4 năm 1998 (84 tuổi) tại Thành phố Mexico, Mexico |
| Nghề nghiệp: | Nhà văn, Nhà thơ, Nhà ngoại giao. |
| Quốc tịch: | Mexico |
| Giai đoạn sáng tác: | 1931 - 1965 |
| Tác phẩm đầu tay: | Caballera (1931) |
| Ảnh hưởng tới: | Gerardo Diego, Juan Ramón Jiménez, Sor Juana Inés de la Cruz, D. H. Lawrence, Nathaniel Hawthorne, Yeats, Alfonso Reyes, Antonio Machado |
| Ảnh hưởng bởi: | Guillermo Sheridan, Eric Whitacre, Carlos Fuentes, Eliot Weinberger, Ilan Stavans, Monique Fong Wust |
Octavio Paz Lozano (31 tháng 3 năm 1914 - 19 tháng 4 năm 1998) là nhà thơ, nhà văn Mexico đoạt giải Nobel Văn học năm 1990.
Mục lục |
[sửa] Tiểu sử
Octavio Paz sinh tại Thành phố Mexico. Là con một nhà báo nổi tiếng (Octavio Paz Solórzano), ông từ nhỏ đã đọc các tác phẩm của văn học thế giới, mười tuổi đã in thơ, 19 tuổi xuất bản tập thơ Luna Silvestre (Trăng hoang) khi đang học luật tại Đại học Quốc gia Mexico. 22 tuổi, ông sang Tây Ban Nha hoạt động xã hội, viết bài chống phát xít; năm 1939 trở về Mexico viết báo và đấu tranh cho quyền lợi người lao động. Năm 1943, ông sang nghiên cứu văn hóa Mỹ với tư cách nghiên cứu sinh được học bổng của tổ chức Guggenheim. Thời kỳ này, Paz cho ra đời những tập thơ trữ tình đầy chất trí tuệ, hình tượng ẩn dụ như Raiz del hombre (Cội rễ con người), Entre la piedra y flora (Giữa đá và hoa), Libretad bajo palabra (Tự do dưới lời thề)...
Năm 1945, ông bắt đầu hoạt động ngoại giao ở Liên Hiệp Quốc, làm đại sứ tại Pháp, Nhật Bản, Ấn Độ... Năm 1968, ông từ chức để phản đối chính quyền Mexico đàn áp sinh viên, trở về nước tiếp tục viết văn. Năm 1972, Octavio Paz trở thành thành viên Viện Hàn lâm Mexico; năm 1981 được trao giải Miguel de Cervantes. Năm 1984 nhà nước Mexico tổ chức mừng thọ ông kéo dài 5 ngày liên tục. Paz là nhà văn viết nhiều về những vấn đề của văn hóa, văn học, những suy ngẫm của ông được viết bằng một ngôn ngữ phóng khoáng, mang đậm chất thơ ca, hướng về quá khứ lịch sử và cuộc sống của ngày hôm nay. Ông được đánh giá là một trong những nhà thơ uy tín nhất viết bằng tiếng Tây Ban Nha.
Năm 1990, ông được trao giải Nobel với toàn thể 15 phiếu đồng tình, một điều chưa từng thấy trong lịch sử giải[cần dẫn chứng]. Paz mất tại Thành phố Mexico.
[sửa] Tác phẩm
- Luna silvestre (Vầng trăng màu ánh bạc, 1933), thơ
- Raiz del hombre (Cội rễ con người, 1937), thơ
- Entre la piedra y flora (Giữa đá và hoa, 1941), thơ
- A la orilla del mundo (Nơi tận cùng thế giới, 1942),
- Libretad bajo palabra (Tự do dưới lời thề, 1948), thơ
- El laberinto de la soledad (Mê cung của nỗi cô đơn, 1950), biên khảo
- Aguila o sol (Chim đại bàng hay mặt trời, 1951), thơ
- El arco y la lira (Cây cung và đàn Lyre, 1956), biên khảo về thơ
- Las peras del olmo (Bóng mát cây du, 1957), phê bình văn học
- Piedra del sol (Đá mặt trời, 1957), trường ca
- Salamandra (1962), thơ
- Corriente alterna (Dòng điện xoay chiều, 1967), tiểu luận
- Blanco (1967), thơ
- East slope (Miền dốc phía Đông, 1968), thơ
- El castillo de la pureza (Lâu đài thanh khiết, 1968), tiểu luận
- Ladera Este (Bờ phía Đông, 1969), thơ
- La centena (Lúa mạch, 1969), thơ
- Posdata (Những dòng tái bút, 1970), khảo cứu
- Topoemas (Các hình thể, 1971), thơ
- Los hijos del limo (Những đứa trẻ bùn lầy, 1974), tiểu luận
- El mono gramatico (Nhà ngữ pháp khỉ, 1974), thơ
[sửa] Hai bài thơ
- Thân thể phô bày
- Và bóng tối mở ra, một thân thể phô bày
- Suối tóc của em
- Rừng rậm mùa thu với dòng nước mặt trời lấp lóa
- Miệng em, và hàm răng trắng xóa
- Bị giam cầm trong lửa thú nhe răng
- Làn da em có màu của một cục đường nung
- Những nơi chốn thời gian không biết đến
- Môi anh chỉ quen với miền thung lũng
- Hẻm đầy trăng giữa hai bầu vú nhô lên
- Bụng của em là một vùng cao nguyên
- Gáy là thác nước đã hóa thành thác đá
- Một bãi biển bao la trải xuống bên sườn.
- Đôi mắt của em như mắt hổ gườm gườm
- Sau phút chốc – lại là mắt ướt buồn của chó.
- Lưng em dưới mắt anh nhìn trải đều lặng lẽ
- Tựa như lưng sông trong lửa cháy bập bùng.
- Cả ngày đêm dòng nước ngủ mơ màng
- Vỗ vào eo lưng có màu đất sét
- Còn trên bãi biển của em dài không hết
- Như cát ở dưới ánh trăng
- Gió thổi vào miệng anh và lời gió thở than
- Choàng đôi cánh của mình màu xám
- Lên những thân thể trong đêm vắng
- Như chiếc bóng của đại bàng
- Cô đơn trên những cánh đồng hoang.
- Móng chân của em như ánh thuỷ tinh mùa hạ.
- Giữa hai chân em một giếng nước ngủ im lìm
- Đó là vịnh, nơi biển đêm lặng ngừng
- Là con ngựa đen sùi bọt mép
- Là hang động dưới chân núi giấu đầy báu vật
- Là miệng bếp lò nướng bánh tế thần tiên
- Là đôi môi mỉm cười ác độc của em
- Là sự lên ngôi của ánh sáng và bóng tối
- Của cái nhìn thấy và cái không nhìn thấy
- (ở đó da thịt hồi sinh và cuộc sống kéo dài).
- Xứ sở của máu, miền đất có một không hai
- Từng biết đến anh và anh đã từng biết đến
- Là xứ sở duy nhất mà anh tin tưởng
- Là lối vào duy nhất dẫn tới vô cùng.
- Bên biển
- Hình thù của sóng ra sao?
- Sóng nhào nặn mình, lấp lóa
- Sóng rì rào, mệt lử
- Lên con sóng khác xô vào
- Sự chuyển động – là hình thù của sóng.
- Biển không thể nào khao khát
- Biển trăn trở đến bình minh
- Trên chiếc giường bằng đá của mình
- Khát khao gió, rồi biển chết.
- Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng
[sửa] Liên kết ngoài
- Trang thơ O. Paz trên Vnthuquan
- Trang thơ O. Paz trên Thi Viện
- Octavio Paz's complete poems and essays from Vuelta magazine and literary criticism on his work (Spanish)
|
1976: Bellow | 1977: Aleixandre | 1978: Singer | 1979: Elytis | 1980: Miłosz | 1981: Canetti | 1982: García Márquez | 1983: Golding | 1984: Seifert | 1985: Simon | 1986: Soyinka | 1987: Brodsky | 1988: Mahfouz | 1989: Cela | 1990: Paz | 1991: Gordimer | 1992: Walcott | 1993: Morrison | 1994: Oe | 1995: Heaney | 1996: Szymborska | 1997: Fo | 1998: Saramago | 1999: Grass | 2000: Cao Hành Kiện |


