Oite (tàu khu trục Nhật) (1924)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
IJN DD Oite in 1927 off Yokohama.jpg
Tàu khu trục Oite ngoài khơi Yokohama, năm 1927
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Tàu khu trục số 11
Hãng đóng tàu: Xưởng đóng tàu Uraga
Đặt lườn: 16 tháng 3 năm 1923
Hạ thủy: 27 tháng 11 năm 1924
Hoạt động: 30 tháng 10 năm 1925
Đổi tên: Tàu khu trục số 11 thành Oite: 1 tháng 8 năm 1928
Xóa đăng bạ: 11 tháng 3 năm 1944
Số phận: Bị máy bay Hải quân Mỹ đánh chìm ngày 18 tháng 2 năm 1944 tại Truk; tọa độ 7°40′B 138°57′Đ / 7,667°B 138,95°Đ / 7.667; 138.950
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Kamikaze
Trọng tải choán nước: 1.400 tấn (tiêu chuẩn);
1.720 tấn (đầy tải)
Độ dài: 97,5 m (319 ft 10 in) mực nước
102,6 m (336 ft 7 in)
Sườn ngang: 9,1 m (29 ft 10 in)
Mớn nước: 2,9 m (9 ft 6 in)
Động cơ đẩy: 2 × Turbine hộp số Kampon
4 × nồi hơi ống nước Ro-Gō Kampon
2 × trục
công suất 38.500 mã lực (28,7 MW)
Tốc độ: 68,3 km/h (36,88 knot)
Tầm xa: 6.700 km ở tốc độ 26 km/h
(3.600 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn: 168
Vũ trang: 3 × pháo 120 mm/45 caliber Kiểu 3
10 × pháo 25 mm Kiểu 96 đa dụng
4 × ống phóng ngư lôi 533 mm
16 × mìn sâu

Oite (tiếng Nhật: 追風) là một tàu khu trục hạng nhất, thuộc lớp Kamikaze của Hải quân Đế quốc Nhật Bản bao gồm chín chiếc, được chế tạo sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc. Rất hiện đại vào lúc đó, những con tàu này đã phục vụ như những tàu khu trục hàng đầu trong những năm 1930, nhưng được xem là đã lạc hậu vào lúc Chiến tranh Thái Bình Dương nổ ra.[1] Ngoài một vài trận chiến, Oite hầu như chỉ sử dụng trong vai trò tuần tra và hộ tống cho đến khi bị máy bay Hải quân Mỹ đánh chìm ngày 18 tháng 2 năm 1944 tại Truk trong chiến dịch Hailstorm.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chế tạo lớp tàu khu trục cỡ lớn Kamikaze được chấp thuận như một phần của Chương trình phát triển Hạm đội 8-4 trong năm tài chính 1921–1923 dành cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Thiết kế của chúng là sự tiếp nối của lớp Minekaze trước đó, vốn chia sẻ nhiều đặc tính thiết kế chung.[1] Được chế tạo tại xưởng đóng tàu Uraga, Oite được đặt lườn vào ngày 16 tháng 3 năm 1923, được hạ thủy vào ngày 27 tháng 11 năm 1924 và được đưa ra hoạt động vào ngày 30 tháng 10 năm 1925.[2] Khi đưa vào hoạt động nó chỉ được gọi đơn giản là "Tàu khu trục số 11" (第十一号駆逐艦, Dai-11-Gō Kuchikukan) trước khi được đặt tên Oite vào ngày 1 tháng 8 năm 1928.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, Oite nằm trong thành phần Hải đội Khu trục 6 thuộc Phân hạm đội Khu trục 29 của Hạm đội 4 Hải quân Đế quốc Nhật Bản đặt căn cứ tại Truk. Nó tham gia trận chiến đảo Wake, chịu đựng hư hại nhẹ bởi hỏa lực pháo phòng thủ duyên hải Mỹ trong khi tìm cách cho đổ bộ một đơn vị Lực lượng Đổ bộ Hải quân Đặc biệt không thành công vào ngày 11 tháng 12.[3] Trong một nỗ lực chiếm đóng thứ hai vào ngày 23 tháng 12, Oite đã cho đổ bộ thành công mà không bị thiệt hại.

Từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1942, Oite hỗ trợ cho lực lượng Nhật Bản tấn công chiếm đóng Rabaul, New BritainLae; rồi quay trở về xưởng hải quân Sasebo để sửa chữa vào tháng 4. Vào cuối tháng 4, Oite hộ tống một đoàn tàu vận tải từ Sasebo đến Truk. Trong Trận chiến biển Coral vào các ngày 7-8 tháng 5 năm 1942, Oite được phân về lực lượng đổ bộ trong Chiến dịch Mo nhắm vào cảng Moresby.[4] Khi chiến dịch này bị hủy bỏ, nó được phân công đến khu vực quần đảo Solomon, tiến hành tuần tra từ Rabaul và hộ tống cho việc vận chuyển một đội xây dựng sân bay từ Truk đến BougainvilleGuadalcanal. Vào tháng 8 năm 1942, Oite thực hiện một chuyến "Tốc hành Tokyo" vận chuyển binh lính đến tăng cường cho Guadalcanal, nhưng vào cuối tháng được điều trở lại nhiệm vụ hộ tống cho các cuộc đổ bộ lực lượng lên Nauruđảo Ocean.

Từ tháng 9 năm 1942, Oite thực hiện các chuyến tuần tra tại khu vực trung tâm Thái Bình Dương, và hộ tống các đoàn tàu vận chuyển binh lính từ Palau đến Solomon cho đến tháng 9 năm 1943. Vào ngày 21 tháng 9 năm 1943, đang khi hộ tống một đoàn tàu vận tải từ Truk đi ngang qua Saipan để đến Yokosuka, Oite trúng phải một quả ngư lôi, nhưng may mắn là quả ngư lôi bị tịt ngòi và chỉ gây hư hại nhẹ. Oite tiếp tục đảm nhận vai trò hộ tống cho đến tháng 2 năm 1944, đi lại giữa các đảo chính quốc Nhật Bản và Saipan, và giữa Saipan và Rabaul, trong tình hình tổn thất gây ra bởi tàu ngầm Mỹ ngày càng gia tăng.[5]

Ngày 16 tháng 2 năm 1944, Oite đang hộ tống chiếc tàu tuần dương Agano bị hư hại từ Truk quay về Nhật Bản, khi Agano lại trúng ngư lôi phóng từ tàu ngầm Mỹ Skate và bị chìm. Oite cứu được 523 người trong thủy thủ đoàn của Agano và quay trở lại Truk. Tuy nhiên, đúng vào lúc Oite về đến cảng Truk vào ngày 18 tháng 2, căn cứ Nhật Bản tại đây phải chịu đựng một cuộc không kích của máy bay Hải quân Hoa Kỳ trong Chiến dịch Hailstorm. Oite trúng phải ngư lôi, vỡ làm đôi và chìm gần như ngay lập tức ở tọa độ 7°40′B 138°57′Đ / 7,667°B 138,95°Đ / 7.667; 138.950Tọa độ: 7°40′B 138°57′Đ / 7,667°B 138,95°Đ / 7.667; 138.950, làm thiệt mạng 172 trong số 192 thành viên thủy thủ đoàn và toàn bộ 523 người sống sót của chiếc Agano.[6]

Oite được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 31 tháng 3 năm 1944.[2] Xác tàu đắm của chiếc Oite được phát hiện vào tháng 3 năm 1986 ở độ sâu khoảng 60 m (200 ft), vỡ làm hai phần ở cách nhau khoảng 12 m (40 ft). Phần mũi của con tàu bị lật úp với cầu tàu ngập sâu trong bùn, trong khi phần đuôi ở tư thế thẳng đứng.[7]

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Howarth, The Fighting Ships of the Rising Sun
  2. ^ a ă Nishidah, Hiroshi (2002). “Kamikaze class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 
  3. ^ Devereaux, The Story of Wake Island.
  4. ^ Morison. Coral Sea, Midway and Submarine Actions
  5. ^ Nevitt, Allyn D. (1997). “IJN Oite: Tabular Record of Movement”. Long Lancers. Combinedfleet.com. 
  6. ^ Brown. Warship Losses of World War Two.
  7. ^ Tulley. Located/Surveyed Shipwrecks of the Imperial Japanese Navy

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • D'Albas, Andrieu (1965). Death of a Navy: Japanese Naval Action in World War II. Devin-Adair Pub. ISBN 0-8159-5302-X. 
  • Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-914-X. 
  • Devereaux, Colonel James P.S., USMC (1947). The Story of Wake Island. The Battery Press. ISBN 0-89839-264-0. 
  • Dull, Paul S. (1978). A Battle History of the Imperial Japanese Navy, 1941-1945. Naval Institute Press. ISBN 0-87021-097-1. 
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895–1945. Atheneum. ISBN 0689114028. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869–1945. US Naval Institute Press. ISBN 087021893X. 
  • Lindemann, Klaus (2005). Hailstorm Over Truk Lagoon: Operations Against Truk by Carrier Task Force 58, and the Shipwrecks of World War II. Oregon, USA: Resource Publications. ISBN 1-59752-347-X. 
  • Morison, Samuel Eliot (1949 (reissue 2001)). Coral Sea, Midway and Submarine Actions, tháng 5 năm 1942-tháng 8 năm 1942, vol. 4 of History of United States Naval Operations in World War II. Champaign, Illinois, USA: University of Illinois Press. ISBN 0-252-06995-1. 
  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 
  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1854095218. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]