Okikaze (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
IJN Okikaze at Yokosuka Showa 7.jpg
Tàu khu trục Nhật Okikaze tại Yokosuka, năm 1932
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Đặt hàng: 1917
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Maizuru
Đặt lườn: 22 tháng 2 năm 1919
Hạ thủy: 3 tháng 10 năm 1919
Hoạt động: 17 tháng 8 năm 1920
Xóa đăng bạ: 1 tháng 3 năm 1944
Số phận: Bị tàu ngầm Mỹ đánh chìm phía Đông Nam Yokosuka, ngày 10 tháng 1 năm 1943
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Minekaze
Trọng tải choán nước: 1.345 tấn (tiêu chuẩn);
1.650 tấn (đầy tải)
Độ dài: 97,5 m (319 ft 11 in) mực nước
102,6 m (336 ft 7 in) chung
Sườn ngang: 9 m (29 ft 6 in)
Mớn nước: 2,9 m (9 ft 6 in)
Động cơ đẩy: Turbine hơi nước Mitsubishi-Parsons
4 × nồi hơi đốt dầu
2 × trục
công suất 38.500 mã lực (28,7 MW)
Tốc độ: 72 km/h (39 knot)
Tầm xa: 6.700 km ở tốc độ 26 km/h
(3.600 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn: 148
Vũ trang: 4 × hải pháo 120 mm (4,7 inch)/45 caliber Kiểu 3
6 × ống phóng ngư lôi 533 mm (21 inch)
2 × súng máy 7,7 mm
20 × mìn sâu

Okikaze (tiếng Nhật: 沖風) là một tàu khu trục thuộc lớp Minekaze được chế tạo cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản ngay sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Chúng là những tàu khu trục hàng đầu của Hải quân Nhật trong những năm 1930, nhưng đã bị xem là lạc hậu vào lúc nổ ra Chiến tranh Thái Bình Dương. Okikaze hầu như chỉ đảm trách vai trò tuần tra chống tàu ngầm và hộ tống đoàn tàu vận tải trong Chiến tranh Thế giới thứ hai cho đến khi bị tàu ngầm Mỹ USS Trigger đánh chìm ở về phía Đông Nam Yokosuka vào ngày 10 tháng 1 năm 1943.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chế tạo lớp tàu khu trục kích thước lớn Minekaze được chấp thuận như một phần trong Chương trình Hạm đội 8-4 của Hải quân Đế quốc Nhật Bản trong giai đoạn năm tài chính 1917-1920, kèm theo lớp Momi cỡ trung vốn chia sẻ nhiều đặc tính thiết kế chung.[1] Được trang bị động cơ mạnh mẽ, những con tàu này có tốc độ cao và được dự định hoạt động như những tàu hộ tống cho những chiếc tàu chiến-tuần dương thuộc lớp Amagi mà cuối cùng đã không được chế tạo.[2]

Okikaze, chiếc thứ ba của lớp tàu này, được chế tạo tại Xưởng hải quân Maizuru. Nó được đặt lườn vào ngày 22 tháng 2 năm 1919; được hạ thủy vào ngày 3 tháng 10 năm 1919; và được đưa ra hoạt động vào ngày 17 tháng 8 năm 1920.[3]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất, Okikaze được tập hợp cùng với các con tàu chị em Minekaze, SawakazeYakaze tại Quân khu Hải quân Sasebo để hình thành nên Hải đội Khu trục 2 trực thuộc Hạm đội 2 Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Trong những năm 1930-1932, Hải đội Khu trục 2 được chuyển sang Không Hạm đội 1 Hải quân Đế quốc Nhật Bản trong thành phần hộ tống cho tàu sân bay Akagi, để trợ giúp vào việc tìm kiếm và giải cứu những máy bay lâm nạn.

Vào lúc xảy ra Sự kiện Thượng Hải năm 1932, Okikaze tham gia tuần tra dọc theo sông Dương Tử tại Trung Quốc.

Ảnh nhìn qua kính tiềm vọng của tàu ngầm USS Trigger khi đánh chìm Okikaze

Vào lúc xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, Okikaze đang đặt căn cứ tại Quân khu Phòng thủ Ominato tại miền Bắc nước Nhật, được phân công nhiệm vụ tuần tra eo biển Tsugaru và dọc theo bờ biển phía Nam đảo Hokkaido.

Đến tháng 4 năm 1942, Okikaze được điều về Quân khu Hải quân Yokusuka, nơi nó được giao nhiệm vụ tuần tra chống tàu ngầm ở lối ra vào vịnh Tokyo cho đến hết quãng đời phục vụ trong chiến tranh, chỉ thỉnh thoảng hộ tống các đoàn tàu vận tải dọc theo bờ biển Nhật Bản đến Kushimoto, Wakayama, hay tuần tra đến phía Bắc Honshu cho đến cuối năm 1942.

Vào ngày 10 tháng 1 năm 1943, Okikaze trúng phải ngư lôi phóng từ tàu ngầm Mỹ USS Trigger chỉ cách 56 km (35 dặm) về phía Đông Nam Yokosuka, trong tầm nhìn thấy hải đăng Katsura, ở tọa độ 35°02′B 140°12′Đ / 35,033°B 140,2°Đ / 35.033; 140.200Tọa độ: 35°02′B 140°12′Đ / 35,033°B 140,2°Đ / 35.033; 140.200. Một quả ngư lôi trúng ngay sàn tàu chính làm tháp cấu trúc thượng tầng chỉ huy bị nghiêng 45°, một quả khác trúng vào đuôi của Okikaze. Con tàu khu trục chìm nhanh chóng với tổn thất gần hết thủy thủ đoàn, kể cả thuyền trưởng của nó.[4]

Tuy nhiên, Okikaze đã không được chính thức gạch tên khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân cho đến tận ngày 1 tháng 3 năm 1944.[3]

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Howarth, The Fighting Ships of the Rising Sun
  2. ^ Globalsecurity.org, IJN Minekaze class destroyers
  3. ^ a ă Nishidah, Hiroshi (2002). “Minekaze class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 
  4. ^ Nevitt, Allyn D. (1997). “IJN Okikaze: Tabular Record of Movement”. Long Lancers. Combinedfleet.com. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-914-X. 
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895-1945. Atheneum. ISBN 0689114028. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869-1945. US Naval Institute Press. ISBN 087021893X. 
  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 
  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1854095218. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]