Oliver Cromwell

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Oliver Cromwell
Oliver Cromwell by Samuel Cooper.jpg
A 1656 Samuel Cooper portrait of Cromwell
Chức vụ
Nhiệm kỳ Ngày 25 tháng 12 năm 1653 – Ngày 03 tháng 09 năm 1658
Tiền nhiệm Hội đồng Nhà nước
Kế nhiệm Richard Cromwell
Thông tin chung
Sinh 25 tháng 4, 1599(1599-04-25)
Huntingdon, Huntingdonshire, Anh
Mất 3 tháng 9, 1658 (59 tuổi)
Whitehall, London, Anh
Alma mater Sidney Sussex College, Cambridge
Nghề nghiệp Nông dân, Nghị sĩ, Chỉ huy quân sự
Tôn giáo Puritan (Independent)
Họ hàng
  • Robert Cromwell (father)
  • Elizabeth Steward (mother)
Con cái
Chữ ký Signature of Oliver Cromwell (1651).png
Binh nghiệp
Phục vụ Roundhead
Thuộc Eastern Association (1643–1645); New Model Army (1645–1646)
Năm tại ngũ 1643–51
Cấp bậc Colonel (1643 – bef. 1644); Lieutenant-General of Horse (bef. 1644–45); Lieutenant-General of Cavalry (1645–46)
Chỉ huy Cambridgeshire Ironsides (1643 – bef. 1644); Eastern Association (bef. 1644–45); New Model Army (1645–46)
Tham chiến Gainsborough; Marston Moor; Newbury II; Naseby; Langport; Preston; Dunbar; Worcester
Danh hiệu Hoàng gia của
Oliver Cromwell,
Lord Protector of the Commonwealth

Coat of Arms of the Commonwealth of England.svg

Cách đề cập His Highness
Cách xưng hô Your Highness
Cách thay thế Sir

Oliver Cromwell (25 tháng 4 năm 1599 - 3 tháng 9 năm 1658) là một nhà lãnh đạo chính trị và quân sự người Anh, người đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập nền cộng hòa ở Anh và sau đó là Huân tước bảo hộ của Anh, ScotlandIreland. Ông là một trong những chỉ huy của lực lượng quân đội mới đánh bại những người bảo hoàng trong cuộc nội chiến Anh. Sau khi vua Charles I của Anh bị xử tử năm 1649, Cromwell chinh phục Ireland và Scotland rồi cai trị với tư cách huân tước bảo hộ từ năm 1653 cho tới khi ông qua đời năm 1658.

Cromwell sinh ra trong một gia đình quý tộc nhỏ và cuộc đời ông hoàn toàn mờ nhạt cho tới đầu những năm 40 tuổi. Có lúc ông sống như một điền chủ nhỏ, rồi sau đó khấm khá hơn nhờ khoản thừa kế từ một người bác. Cũng vào những năm 40 tuổi, Cromwell cải đạo sang Thanh giáo. Ông được bầu vào hội đồng dân biểu ở Cambridge rồi tham gia cuộc nội chiến Anh bên phe những người nghị viên.

Là một chiến binh can đảm (biệt danh "Sắt thép"), ông bắt đầu được biết tới sau khi chỉ huy một đội kỵ binh chống lại toàn bộ quân đội hoàng gia. Cromwell là người thứ ba ký vào lệnh xử tử hình Charles I vào năm 1649 và là thành viên của nghị viện Rump từ 1649 đến 1653. Ông được giao chỉ huy chiến dịch đánh Scotland trong các năm 1650-1651. Ngày 20 tháng 4 năm 1653, Cromwell giải tán nghị viện Rump bằng vũ lực rồi thành lập nghị viện Barebones trước khi trở thành Huân tước bảo hộ của Anh, Scotland và Ireland vào ngày 16 tháng 12 năm 1653 cho tới khi ông qua đời. Khi những người bảo hoàng trở lại nắm quyền vào năm 1660, xác ông bị đào lên, bị treo và bị chặt đầu.

Cromwell là một nhân vật gây rất nhiều tranh cãi trong lịch sử nước Anh. Với những sử gia như David Hume hay Christopher Hill, ông là tên độc tài phạm tội giết vua, nhưng với những người khác như Thomas Carlyle hay Samuel Rawson Gardiner, ông là người anh hùng của tự do và dân chủ. Ở Anh, Cromwell được chọn vào danh sách 10 người vĩ đại nhất nước Anh mọi thời đại trong một cuộc bình chọn của BBC năm 2002.[1] Những biện pháp của ông đối phó với người Thiên chúa giáo ở Ireland bị nhiều sử gia coi là rất gần với tội ác diệt chủng,[2] và ở chính Ireland cho tới tận bây giờ, người ta vẫn rất căm thù Cromwell.[3][4]

Thời trẻ: 1599-1640[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà của Oliver Cromwell ở Ely

Những tư liệu còn sót lại không cung cấp gì nhiều về 40 năm đầu tiên trong cuộc đời Cromwell. Ông sinh ở Huntingdon ngày 25 tháng 4 năm 1599,[5]. Mẹ và cha ông là Elizabeth và Robert Cromwell (khoảng 1560-1617). Oliver Cromwell có tổ tiên là Catherine Cromwell (sinh khoảng 1482), chị của nhà chính trị thời kỳ Tudor Thomas Cromwell. Catherine kết hôn với Morgan Morgan ap Williams, con trai của William ap Yevan của Wales và Joan Tudor, tức là Cromwell là một người anh họ xa với những đối thủ dòng vua Stuart của ông. Gia tộc Cromwell tiếp nối với Richard Cromwell (khoảng 1500-1544), Henry Cromwell (khoảng 1524-6 tháng 1 năm 1603), rồi đến cha của Oliver, Robert Cromwell (khoảng 1560-1617). Robert kết hôn với Elizabeth Steward hay Stewart (1564-1654) và Oliver ra đời. Như vậy, Thomas là nội tổ bá của Oliver Cromwell.[6]

Đẳng cấp xã hội của gia đình Cromwell khá thấp, thuộc tầng lớp quý tộc nhỏ, khi ông ra đời. Cha ông là con trai nhỏ trong gia đình và là một trong 10 người anh em sống sót qua thời thơ ấu. Hệ quả là Robert chỉ được thừa kế một ngôi nhà ở Huntingdon cùng một điền trang nhỏ bé. Điền trang đó mang tới thu nhập khoảng 300 bảng mỗi năm, thuộc vào loại thấp nhất trong số các quý tộc nhỏ thời bấy giờ.[7] Sau này, vào năm 1654, chính Cromwell đã nói: "Tôi sinh ra như một người quý tộc, không nổi tiếng, cũng không vô danh".[8] Lễ rửa tội của Cromwell diễn ra ngày 29 tháng 4 năm 1599 tại nhà thờ St. John,[9] và thời thơ ấu ông có đi học ở trường Huntingdon Grammar School. Ông tiếp tục theo học đại học tại Đại học Sidney Sussex, Cambridge, thời bấy giờ mới được thành lập và là trường có khuynh hướng theo Thanh giáo mạnh mẽ. Ông rời trường năm 1617 sau cái chết của người cha mà chưa nhận bằng cấp gì. Sau đó, Cromwell trở về nhà ở Huntingdon và trở thành trụ cột của gia đình gồm mẹ và bảy cô chị em gái vẫn chưa lấy chồng.[10]

Ngày 22 tháng 8 năm 1620, tại St.Giles, Cripplegate, London,[11] Cromwell kết hôn với Elizabeth Bourchier (1598–1665). Họ có chín người con:

  • Robert (1621-1639), chết khi đi học xa nhà.
  • Oliver (1622-1644), chết vì bệnh sốt thương hàn khi đang là một sĩ quan quân đội.
  • Bridget (1624-1681), kết hôn với Henry Ireton, rồi Charles Fleetwood.
  • Richard (1626-1712), người thừa kế chức Huân tước bảo hộ của Cromwell.[12]
  • Henry (1628-1674), sau này trở thành Toàn quyền Ireland.
  • Elizabeth (1629-1658), kết hôn với John Claypole.
  • James (sinh và mất 1632), chết khi vừa sinh.
  • Mary (1637-1713), kết hôn với Thomas Belasyse, Bá tước thứ nhất của Fauconberg.
  • Frances (1638-1720), kết hôn với Robert Rich, rồi Sir John Russell.

Cha của Elizabeth, Sir James Bourchier, là một nhà kinh doanh đồ thuộc da ở London sở hữu những mảnh đất lớn tại Essex và có liên hệ chặt chẽ với những gia đình quý tộc nhỏ theo Thanh giáo ở đó. Cuộc hôn nhân giúp Cromwell có những liên hệ đầu tiên với Oliver St John và với nhiều thành viên chủ chốt của cộng đồng giới buôn bán kinh doanh tại London, những người nhận sự che chở về chính trị từ các bá tước của WarwickHenry Rich, bá tước thứ nhất của Hà Lan. Việc trở thành một người trong nhóm người sùng đạo này có vai trò cốt tử với sự nghiệp chính trị cũng như binh nghiệp của Cromwell. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, không có nhiều tài liệu cho thấy tôn giáo thực sự của Cromwell là gì. Lá thư đề năm 1626 của ông gửi Henry Donwhall, một bộ trưởng theo đạo Tin lành dòng Arminian cho thấy Cromwell chưa bị ảnh hưởng sâu sắc bởi Thanh giáo.[13] Tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy Cromwell đã trải qua những dằn vặt nội tâm liên quan tới tôn giáo của ông từ cuối những năm 1620 đến đầu những năm 1630. Ông phải điều trị về tâm lý với một bác sĩ ở London, Theodore de Mayerne vào năm 1628. Ông cũng tham gia vào một cuộc ẩu đả giữa các quý tộc nhỏ ởHHuntingdon về hương ước mới cho thị trấn và đã bị gọi ra trước hội đồng thị trấn vào năm 1630.[14]

Năm 1631, Cromwell bán hầu hết các bất động sản của ông ở Huntingdon; có thể là hậu quả của cuộc va trạm trên, và chuyển tới một trang trại ở in St Ives, Cambridgeshire. Sự kiện này là một bước thụt lùi về địa vị xã hội của Cromwell và có lẽ đã ảnh hưởng mạnh tới tinh thần, quan điểm về tôn giáo và cảm xúc của ông. Một lá thư Cromwell viết cho vợ của Oliver St John năm 1638 thể hiện điều đó.

Năm 1636, Cromwell được thừa kế nhiều bất động sản ở Ely từ một người chú bên họ mẹ, cũng như công việc của người chú, một nhân viên thu thuế của nhà thờ Ely. Nhờ đó, thu nhập của ông tăng khoảng 300-400 bảng một năm.[15] Khoản thu nhập này giúp ông trở lại với tầng lớp địa chủ nhỏ vào cuối những năm 1630. Ông cũng trở thành một người theo Thanh giáo thành tâm và thiết lập những mối quan hệ gia đình với các gia đình lớn ở London và Essex.

Thành viên nghị viện: 1628-1629 và 1640-1642[sửa | sửa mã nguồn]

Cromwell trở thành thành viên của Nghị viện Huntingdon trong nhiệm kỳ 1628-1629. Ông không tạo được nhiều ảnh hưởng ở đó. Những tài liệu lưu trữ của nghị viện chỉ cho thấy một bài phát biểu không được đón nhận lắm của ông.[16] Sau khi giải tán nghị viện này, vua Charles I cai trị mà không có nghị viện trong 11 năm tiếp theo. Khi Charles phải đối mặt với cuộc nổi dậy của những người Scotland, do không có đủ tiền, ông buộc phải thành lập nghị viện trở lại vào năm 1640. Cromwell trở lại là một thành viên của nghị viện Cambridge, nhưng nghị viện này chỉ tồn tại được ba tuần.

Một nghị viện thứ hai được thành lập cũng trong năm đó. Cromwell lại là nghị viên đại diện cho Cambridge. Cũng giống như giai đoạn 1628-1629, có vẻ như Cromwell có được vị trí này là nhờ sự bảo trợ của những người khác. Trong tuần đầu tiên nghị viện họp, ông được đề cử đọc kiến nghị về việc thả John Lilburne, bị bắt vì mang bất hợp pháp những văn bản về tôn giáo vào Anh từ Hà Lan, một nhiệm vụ lẽ ra không được giao cho một người còn khá là vô danh và ít ảnh hưởng như Cromwell. Trong hai năm đầu ở nghị viện, Cromwell liên hệ về mặt chính trị với một nhóm các quý tộc sùng đạo ở Thượng viện và các thành viên ở Hạ viện mà ông đã có mối liên hệ với tư cách cá nhân, tôn giáo và gia đình từ những năm 1630, như các bá tước Robert Devereux của Essex, Robert Rich của WarwickFrancis Russell của Bedford, Oliver St John, và tử tước William Fiennes của Saye và Sele.[17] Trong giai đoạn này, nhóm quý tộc nói trên đang có dự định về một cuộc cải cách: quyền hành pháp do những nghị viện thông thường kiểm tra và mở rộng một cách vừa phải quyền tự do tín ngưỡng. Cromwell có lẽ cũng có một vai trò nào đó trong những mưu toan chính trị của nhóm này. Tháng 5 năm 1641, Cromwell đã thúc đẩy lần đọc thứ hai của Bộ luật nghị viện thường niên và sau đó đóng vai trò trong việc soạn thảo đạo luật về việc loại bỏ quy chế giám mục quản lý nhà thờ.[18]

Oliver Cromwell.

Chỉ huy quân đội: 1642-1646[sửa | sửa mã nguồn]

Do không thể thống nhất trong việc giải quyết vấn đề Scotland, xung đột vũ trang giữa nghị viện và vua Charles I bùng nổ vào mùa thu năm 1642. Trước khi gia nhập lực lượng của nghị viện, kinh nghiệm quân sự duy nhất của Cromwell là những đợt huấn luyện với lực lượng dân quân địa phương. Vào lúc đó, ở tuổi 43, ông chiêu mộ được một đơn vị kỵ binh ở Cambridgeshire sau khi ngăn một đoàn vận chuyển bạc từ các đoàn thể ở Cambridge cho nhà vua. Cromwell cùng đội quân của mình sau đó tham gia trận đánh quyết định vào tháng 10 năm 1642, trận Edgehill. Đơn vị của ông được tăng lên thành một trung đoàn đầy đủ vào mùa đông năm 1642 và là một phần của liên quân phía đông do Edward Montagu, tử tước Manchester, chỉ huy. Cromwell có thêm kinh nghiệm và giành được chiến thắng trong nhiều trận đánh ở phía đông đảo Anh trong năm 1643, đáng kể nhất là trận Gainsborough ngày 28 tháng 7.[19] Sau trận đánh này, Cromwell được cử làm thống đốc Ely và được thăng hàm đại tá trong liên quân phía đông.

Vào thời gian diễn ra trận Marston Moor tháng 7 năm 1644, Cromwell được thăng hàm thiếu tướng kỵ binh trong quân đoàn Manchester. Thành công của đội kỵ binh do ông chỉ huy trong việc chọc thủng hàng rào kỵ binh của quân hoàng gia rồi tấn công bộ binh từ phía sau tại Marston Moor là một yếu tố quan trọng đóng góp vào thắng lợi của phe nghị viện trong trận đánh đó. Cromwell luôn dẫn đầu đội quân của mình và đã bị một vết thương ở đầu. Cháu trai của ông, Valentine Walton, tử trận ở Marston Moor, và Cromwell viết một bức thư rất nổi tiếng cho cha của anh, anh rể của ông, kể lại cái chết can đảm của người lính. Trận Marston Moor giúp phe nghị viện kiểm soát miền bắc nước Anh, nhưng phe hoàng gia vẫn còn kháng cự.

Trận Newbury lần thứ hai bất phân thắng bại diễn ra vào tháng 10 năm 1644 đồng nghĩa với việc cho tới cuối năm 1644, cuộc chiến vẫn chưa có dấu hiệu gì sẽ kết thúc. Trong trận Newbury, quân đoàn của tử tước Manchester đã để quân của nhà vua phá vây, dẫn đến bất đồng trong quan điểm của Cromwell với Manchester. Cromwell cho rằng ông này không có đủ nhiệt tình để chỉ huy cuộc chiến. Manchester thì kết tội Cromwell chiêu mộ những người "thuộc dòng dõi thấp hèn" làm sĩ quan quân đội. Cromwell đáp trả rằng: "Nếu chọn những người trung thực làm đội trưởng kỵ binh, những người trung thực khác sẽ theo họ… Tôi thà có một đội trưởng khoác áo vải thô biết rõ anh ta chiến đấu cho cái gì và yêu cái mà mình chiến đấu cho còn hơn là một người mà ông gọi là quý tộc, nhưng chỉ có mỗi thế thôi".[20] Lúc đó, Cromwell cũng bất đồng quan điểm với thiếu tướng Lawrence Crawford, một nhân vật của giáo hội Scotland liên minh với quân nghị viện của Manchester, người phản đối việc Cromwell khuyến khích sự tham gia của những người độc lập không theo chính thống giáo vào quân đội.[21] Những khác biệt của Cromwell với các đồng minh người Scotland biến thành tình trạng thù địch công khai vào năm 1648 và giai đoạn 1650-1651.

Đầu năm 1645, nghị viện Anh thông qua một sắc lệnh buộc các thành viên của cả Hạ việnThượng viện, bao gồm cả tử tước Manchester, phải lựa chọn giữa một vị trí quản lý nhà nước hoặc chỉ huy quân đội. Tất cả các nghị viên, trừ Cromwell, đang làm nhiệm vụ trên chiến trường, quyết định từ bỏ các vị trí của mình trong quân đội. Sắc lệnh nói trên còn quy định việc tổ chức lại quân đội trên cơ sở quốc gia, thay thế cho những liên quân mang tính địa phương. Tháng 4 năm 1645, quân đội mới được thành lập với tổng tư lệnh là Sir Thomas Fairfax và Cromwell là phó tổng tư lệnh, hàm trung tướng kỵ binh. Lúc đó, quân số chiến trường của phe nghị viên gần gấp đôi của nhà vua. Trong trận Naseby tháng 6 năm 1645, quân nghị viên giành một chiến thắng hủy diệt trước quân nhà vua. Cromwell đã chỉ huy cánh quân của ông một cách xuất sắc tại Naseby và lại một lần nữa hạ gục đội kỵ binh hoàng gia. Trong trận Langport ngày 10 tháng 7 năm 1645, Cromwell tham gia trong thất bại của đội quân đáng kể cuối cùng của lực lượng hoàng gia. Hai trận đánh đó đã kết thúc hy vọng chiến thắng của nhà vua và các chiến dịch của phe nghị viện sau đó chỉ còn là tấn công, bao vây và đánh chiếm các vị trí phòng thủ của quân hoàng gia ở phía tây nước Anh. Tháng 10 năm 1645, Cromwell bao vây và chiếm được Basing House, nơi ông đã giết hàng trăm quân đóng giữ của phe hoàng gia sau khi họ đã đầu hàng.[22] Cromwell cũng tham gia các trận vây hãm ở Bridgwater, Sherborne, Bristol, Devizes, và Winchester, rồi sau đó trải qua nửa đầu năm 1646 trong việc dập tắt các kháng cự cuối cùng của quân đội hoàng gia ở Devon và Cornwall. Charles I đầu hàng những người Scotland ngày 5 tháng 5 năm 1646, cuộc nội chiến kết thúc. Cromwell và Fairfax chính thức chấp nhận sự đầu hàng của phe hoàng gia ở Oxford vào tháng 6 năm đó.

Cromwell không hề được huấn luyện bài bản về chiến lược quân sự và ông cũng chỉ sử dụng đội hình kỵ binh ba hàng rất phổ biến thời bấy giờ. Những điểm mạnh của ông nằm ở khả năng lãnh đạo, huấn luyện, kỷ luật và đạo đức của một người cầm quân với binh sĩ dưới quyền. Trong một trận đánh mà cả hai bên đều sử dụng chủ yếu là quân không chính quy, những phẩm chất này trở nên đặc biệt quan trọng và có lẽ đã đóng góp vào chiến thắng quyết định của Cromwell.[23]

Tham gia chính trường: 1647–1649[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm 1647, Cromwell bị ốm và ông phải xa đời sống chính trị hơn một tháng. Vào lúc ông hồi phục, những thành viên nghị viện đang bị chia rẽ vì vấn đề liên quan đến nhà vua. Phần lớn các thành viên ở cả hai viện hướng tới một giải pháp làm hài lòng quân đội liên minh Scotland, giải tán quân đội mới và khôi phục ngai vàng cho Charles I đổi lấy việc giành một vùng đất riêng cho giáo hội Scotland. Cromwell phản đối hệ thống giáo hội của những người Scotland mà ông cho rằng sẽ thay thế chế độ quân chủ bằng một hình thức chuyên chế khác. Quân đội mới, bị chọc giận vì không được nghị viện trả khoản tiền lương mà họ còn nợ, kiến nghị chống lại những thay đổi này, nhưng Hạ viện đã bác bỏ kiến nghị đó. Tháng 5 năm 1647, Cromwell được cử tới tổng hành dinh quân đội ở Saffron Walden để thương lượng, nhưng hai bên không đạt được thỏa thuận. Tháng 6 năm 1647, một toán kỵ binh do Cornet George Joyce chỉ huy cướp lấy nhà vua khỏi sự giam giữ của nghị viện. Dù Cromwell có gặp Joyce vào ngày 31 tháng 5, nhưng cứ liệu lịch sử chưa đủ để khẳng định ông có vai trò như thế nào trong sự kiện đó.[24]

Cromwell và Henry Ireton sau đó soạn thảo một bản tuyên ngôn Heads of Proposals đề xuất kiểm tra quyền lực của nhánh hành pháp, thiết lập nên những định chế dân cử mới và phục hồi thể chế quản lý không bắt buộc với nhà thờ.[25] Rất nhiều tướng lĩnh quân đội, như những người theo phong trào Levellers do John Lilburne đứng đầu, cho rằng như thế là chưa đủ để mang tới sự bình đẳng về chính trị cho tất cả mọi người, dẫn đến mâu thuẫn gay gắt ở Putney trong mùa thu năm 1647 giữa một bên là Cromwell, Ireton và bên kia là quân đội. Vụ mâu thuẫn Putney đã không đi tới giải pháp nào.[26] Cuộc tranh luận đó, cùng với việc Charles I trốn thoát khỏi Hampton Court ngày 12 tháng 11, đã khiến Cromwell có thái độ cứng rắn hơn đối với nhà vua.

Thất bại trong việc đạt được một thỏa thuận chính trị với nhà vua đã dẫn đến cuộc nội chiến Anh lần thứ hai vào năm 1648 khi nhà vua tìm cách trở lại ngai vàng bằng vũ lực. Cromwell đánh bại một cuộc nổi dậy của quân bảo hoàng ở miền nam xứ Wales rồi sau đó hành quân lên miền bắc đối phó với lực lượng Scotland có khuynh hướng bảo hoàng. Trong trận Preston, Cromwell, lần đầu tiên nắm toàn quyền chỉ huy tối cao quân đội, đã dẫn đầu một đội quân 9.000 người giành một chiến thắng vẻ vang trước quân địch có quân số đông gấp đôi.[27]

Tháng 12 năm 1648, nhóm các nghị viên muốn tiếp tục thương lượng với nhà vua bị khai trừ khỏi nghị viện do sức ép từ nhóm lính vũ trang dưới sự chỉ huy của đại tá Thomas Pride, tức sự kiện Pride’s Purge. Những nghị viên còn lại, được biết tới với tên gọi Nghị viện Rump, nhất trí rằng Charles I sẽ bị xét xử dựa trên cáo buộc tội phản quốc. Cromwell lúc bấy giờ vẫn còn ở miền bắc nước Anh để đối phó với sự chống cự của quân đội bảo hoàng. Tuy nhiên, sau khi ông trở lại London, vào ngày diễn ra sự kiện Pride’s Purge, Cromwell nhanh chóng trở thành một người ủng hộ cương quyết những ai muốn đem nhà vua ra xét xử và tuyên án tử hình. Cromwell tin rằng giết Charles I sẽ là cách duy nhất chấm dứt cuộc nội chiến. Lệnh tử hình nhà vua được ký bởi 59 thành viên chủ tọa phiên tòa xét xử, bao gồm Cromwell (là người thứ ba ký vào bản án). Charles I bị tử hình ngày 30 tháng 1 năm 1649.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ BBC NEWS | Entertainment | TV and Radio | Ten greatest Britons chosen
  2. ^ genocidal or near-genocidal:
    • Breton Albert (ed). 1995, Nationalism and Rationality, Cambridge University Press, Chapter Regulating nations and ethnic communities by Brendam O'Leary and John McGarry p 248. "Oliver Cromwell offered the Irish Catholics a choice between genocide and forced mass population transfer. They could go 'To Hell or to Connaught!'"
    • Coogan Tim-Pat,. 2002. The Troubles: Ireland's Ordeal and the Search for Peace. ISBN 978-0-312-29418-2. Page 6. "The massacres by Catholics of Protestants, which occurred in the religious wars of the 1640s, were magnified for propagandist purposes to justify Cromwell's subsequent genocide."
    • Ellis, Peter Berresford. 2002. Eyewitness to Irish History. John Wiley & Sons Inc. Page 108. ISBN 978-0471266334. "It was to be the justification for Cromwell's genocidal campaign and settlement."
    • Levene Mark, 2005, Genocide in the Age of the Nation-State, I.B.Tauris: London: "Considered overall, an Irish population collapse from 1.5 or possibly over 2 million inhabitants at the onset of the Irish wars in 1641, to no more than 850.000 eleven years later represents an absolutely devastating demographic catastrophe. Undoubted the largest proportion of this massive death toll did not arise from direct massacre but from hunger and then bubonic plagues, especially from the outbreak between 1649 and 1652. Even so, the relationship to the worst years of the fighting is all too apparent.
      [The Act of Settlement of Ireland], and the parliamentary legislation which succeeded it the following year, is the nearest thing on paper in the English, and more broadly British, domestic record, to a programme of state-sanctioned and systematic ethnic cleansing of another people. The fact that it did not include 'total' genocide in its remit, or that it failed to put into practice the vast majority of its proposed expulsions, ultimately, however, says less about the lethal determination of its makers and more about the political, structural and financial weakness of the early modern English state. For instance, though the Act begins rather ominously by claiming that it was not its intention to extirpate the whole Irish nation, it then goes on to list five categories of people who, as participators in or alleged supporters of the 1641 rebellion and its aftermath, would automatically be forfeit of their lives. It has been suggested that as many as 100.000 people would have been liable under these headings. A further five categories - by implication an even larger body of 'passive' supporters of the rebellion - were to be spared their lives but not their property."
    • Levene, Mark. 2005. Genocide in the Age of the Nation State: Volume 2. Page 55, 56 & 57. A sample quote describes the Cromwellian campaign and settlement as "a conscious attempt to reduce a distinct ethnic population". ISBN 978-1845110574
    • Levene, Mark and Roberts Penny. 1999, The Massacre in History, Berghahn Books: Oxford: "Further evidence for a massacre-ridden civil war in Ireland appears to come from population figures. Though military and civilian deaths from civil war were not light in England or in Scotland, in neither country did war inflict a clear drop in population level. It was otherwise in Ireland. Up to 1641 the population had risen steadily: one million in 1500, 1.4 in 1600, 2.1 in 1641; but then there occurred a sharp fall so that numbers stood at 1.7 million by 1672. After this, renewed growth took the population to 2.2 million in 1687, and 2.8 in 1712. By far the greater part of this massive decline - some four hundred thousand people or 19 percent of the 1641 population - took place in the 1640s and 1650, and was the direct or indirect result of over a decade of warfare. Ireland's civil war death toll is comparable to the devastation suffered during the Second World War by countries such as the Soviet Union, Poland, or Yugoslavia, and suggests that the war-time massacres which so contributed to these horrific modern figures, also occurred in mid-seventeenth-century Ireland."
    • Lutz,James M and Lutz Brenda J, 2004. Global Terrorism, Routledge, London, p.193: "The draconian laws applied by Oliver Cromwell in Ireland were an early version of ethnic cleansing. The Catholic Irish were to be expelled to the northwestern areas of the island. Relocation rather than extermination was the goal."
    • O'Leary, Brendan, Callaghy Thomas M., Ian S. Lustick, 2001, Right-Sizing the State: The Politics of Moving Borders, Oxford University Press: "Ethnic expulsion is a right-peopling strategy, the intended, direct or indirect, forcible movement by state officials, or sanctioned paramilitaries, of the whole or part of a community from its current homeland, usually beyond the sovereign borders of the state. A population can also be forcibly 'repatriated', or pushed back towards its alleged 'homeland', as happened to blacks during the high tide of apartheid in South Africa. We may distinguish two paradigm forms: creating 'Serbian exiles', that is coerced transfers within a state or empire, and 'creating refugees', that is, the expulsion of populations beyond the sovereign border. Examples of the former include the treatment of indigenous peoples throughout the world; the Irish Catholics moved by Oliver Cromwell to Connaught during 1649-50 and after; and national minorities within the Soviet Union."
    • Stewart, Frances. War and Underdevelopment: Economic and Social Consequences of Conflict v. 1, (Queen Elizabeth House Series in Development Studies), Oxford University Press. 2000. "Faced with the prospect of an Irish alliance with Charles II, Cromwell carried out a series of massacres to subdue the Irish. Then, once Cromwell had returned to England, the English Commissary, General Henry Ireton, adopted a deliberate policy of crop burning and starvation, which was responsible for the majority of an estimated 600.000 deaths out of a total Irish population of 1.400.000."

    • Ethnic Cleansing of Ireland, International Institute of Social History Website (Based in the Netherlands), "Roman Catholic Irish were subdued to ethnic cleansing policy by Oliver Cromwell. After his suppression of a rebellion against the English in 1649 he ordered that the Irish were allowed to live west of the Shannon river only. During guerrilla warfare that followed thousands of Irish died or were sold as slaves to America. Cromwell had promised Irish land to the business investors and soldiers who had helped him perform his expeditions. The 'Act for the Attainder of the Rebels in Ireland' of 17 September 1656 is part of this programme. The land of rebels is attained and 'rebels' are defined in such a way that all Catholics match. By the end of 1656 four fifths of the Irish land was in Protestant hands."
  3. ^ "Of all these doings in Cromwell's Irish Chapter, each of us may say what he will. Yet to everyone it will at least be intelligible how his name came to be hated in the tenacious heart of Ireland". John Morley, Biography of Oliver Cromwell. Page 298. 1900 and 2001. ISBN 978-1421267074.; "Cromwell is still a hate figure in Ireland today because of the brutal effectiveness of his campaigns in Ireland. Of course, his victories in Ireland made him a hero in Protestant England." [1] British National Archives web site. Accessed March 2007; [2] From a history site dedicated to the English Civil War. "... making Cromwell's name into one of the most hated in Irish history". Accessed March 2007. Site currently offline. WayBack Machine holds archive here [3]
  4. ^ ; From the Channel 4 History site: [4] "Cromwell's name has always been execrated by Irish Catholics for the massacre at Drogheda. He is also hated for the transplanting of Protestant settlers to Ireland, a policy established in the reign of Elizabeth I." Accessed March 2007.
  5. ^ Oliver Cromwell 1599-1658
  6. ^ Cromwell
  7. ^ Gaunt, p.31.
  8. ^ Speech to the First Protectorate Parliament, 4 September 1654, quoted in Roots, Ivan (1989). Speeches of Oliver Cromwell (Everyman classics), ISBN 0-460-01254-1, p.42.
  9. ^ British Civil Wars, Commonwealth and Proctectorate 1638-1660
  10. ^ Morrill, John (1990). "The Making of Oliver Cromwell", in Morrill, John (ed.), Oliver Cromwell and the English Revolution (Longman), ISBN 0-582-01675-4, p.24.
  11. ^ British Civil Wars, Commonwealthand Proctectorate 1638-1660
  12. ^ Gardiner, Samuel Rawson (1901). Oliver Cromwell, ISBN 1-4179-4961-9, p.4; Gaunt, Peter (1996). Oliver Cromwell (Blackwell), ISBN 0-631-18356-6, p.23.
  13. ^ Morrill, p.34.
  14. ^ Morrill, pp.24–33.
  15. ^ Gaunt, p.34.
  16. ^ Morrill, pp.25-26.
  17. ^ Adamson, John (1990). "Oliver Cromwell and the Long Parliament", in Morrill, p.57.
  18. ^ Adamson, p.53.
  19. ^ 1643: Civil War in Lincolnshire
  20. ^ Letter to Sir William Spring, September 1643, quoted in Carlyle, Thomas (ed.) (1904 edition). Oliver Cromwell's letters and speeches, with elucidations, vol I, p.154; also quoted in Young and Holmes (2000). The English Civil War, (Wordsworth), ISBN 1-84022-222-0, p.107.
  21. ^ Sermons of Rev Martin Camoux: Oliver Cromwell
  22. ^ Kenyon, John & Ohlmeyer, Jane (eds.) (2000). The Civil Wars: A Military History of England, Scotland, and Ireland 1638-1660 (Oxford University Press), ISBN 0-19-280278-X, p.141
  23. ^ Woolrych, Austin (1990). Cromwell as a soldier, in Morrill, pp.117–118.
  24. ^ Coward, pp.188-95.
  25. ^ Tuy nhiên, hiện vẫn còn tranh cãi về việc có phải Cromwell và Ireton là tác giả của Heads of Proposals không, hay họ chỉ đại diện cho Saye và Sele: Adamson, John (1987). "The English Nobility and the Projected Settlement of 1647", Historical Journal, 30, 3; Kishlansky, Mark (1990). "Saye What?", Historical Journal 33, 4.
  26. ^ Woolrych, Austin (1987). Soldiers and Statesmen: the General Council of the Army and its Debates (Clarendon Press), ISBN 0-19-822752-3, ch.2–5.
  27. ^ Gardiner, pp.144–47; Gaunt (1997) 94-97.