P'okp'ung-ho

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
P'okpoong-Ho (Bão Phong Hổ)
Loại Xe tăng chiến đấu chủ lực
Nguồn gốc  CHDCND Triều Tiên
Lược sử hoạt động
Trang bị 1992 - đến nay
Quốc gia sử dụng Quân đội Nhân dân Triều Tiên
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Cục Công nghiệp Cơ khí 2
Nhà sản xuất Nhà máy xe tăng Ryu Kyong-su
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 44 (±3) tấn
Kíp chiến đấu 4 người (xa trưởng, lái xe, pháo thủ, nạp đạn).

Bọc giáp Thép đúc và Spaced Armour hoặc giáp composite, gạch ERA.
Vũ khí chính Pháo nòng trơn 125 ly, 43 [±3] viên đạn, có thể bắn ATGM, 4 tên lửa.
Vũ khí phụ Đại liên phòng không 14,5 ly, 300 viên,

Đại liên đồng trục 7,62 ly, 2000 viên,
Tên lửa tầm ngắn SAM hoặc tên lửa MANPADS đặt trên thân xe (4 tên lửa).

Động cơ V-46-6 (có thể được điều chỉnh, dựa trên các công nghệ của Nga, Ucraina, Triều Tiên), 1.100 (±150) mã lực.
1.100 mã lực
Công suất/trọng lượng 22,72 (±7,22) mã lực/tấn.
Hệ thống treo torsion-bar
Tầm hoạt động 450 km
Tốc độ 60 km/h trên đường bộ
40 km/h đường đất
3 m/s lội nước (P’okpoong Ho có thể chạy nhanh hơn, nhưng sẽ gây nguy hiểm).

P'okpoong Ho (Hán Việt: Bão Phong Hổ, Hanja: 暴風虎, tiếng Anh: Storm Tiger) là một loại xe tăng của CHDCND Triều Tiên được phát triển vào đầu thập niên 1990. Bão Phong Hổ có thể được chế tạo từ các linh kiện sử dụng trong các mẫu tăng T-62, T-72, T-80, T-90, Kiểu 88 và/hoặc T-62 Thiên Mã Hổ. Ở các nước khác, Bão Phong Hổ được đặt bí danh là M-2002 vì nó đã tham gia trình diễn tại một buổi kiểm tra quân sự vào ngày 16 tháng 12 năm 2002, mặc dù chiếc Bão Phong Hổ đầu tiên được sản xuất trước đó 10 năm.

Giống Thiên Mã Hổ và nhiều xe tăng Bắc Triều Tiên khác, phần lớn thông tin về Bão Phong Hổ là tuyệt mật. Thậm chí Bão Phong Hổ không hề có ảnh chụp như Thiên Mã Hổ. Hiện nay, thông tin về Bão Phong Hổ chỉ có từ những người Bắc Triều Tiên phản bội hoặc được suy đoán.[1][2]

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất phát từ sự kiện Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất vào năm 1991, khi hàng ngàn chiếc xe tăng T-72 của Irak thua đậm khi giao chiến với các khí tài của Mỹ và phương Tây như xe tăng M1 Abrams, Challenger 1, trực thăng chống tăng Apache v.v. Sự thật này đã gây sốc lớn cho chính quyền Bắc Triều Tiên.

Tình hình trở nên tồi tệ hơn khi Nam Triều Tiên đang phát triển loại xe tăng K1 có tính năng tương tự M1 Abrams, trong khi loại tăng mới nhất của miền Bắc lúc bấy giờ, Thiên Mã Hổ thực ra chỉ là phiên bản làm lại của T-62, kiểu xe tăng còn lạc hậu hơn hẳn so với T-72. Do yêu cầu bức thiết phải hiện đại hóa lực lượng tăng thiết giáp, hoặc ít ra là rút ngắn khoảng cách đến đối phương miền Nam, CHDCND Triều Tiên phải nâng cấp Thiên Mã Hổ và chế tạo một mẫu xe tăng mới mạnh hơn, mẫu Bão Phong Hổ.

Cùng lúc đó, nền kinh tế của Nga lâm vào khủng hoảng sau khi Liên Xô tan rã, vì vậy họ không còn đủ khả năng duy trì một lực lượng tăng thiết giáp hùng hậu như xưa nữa. Hàng ngàn chiếc xe tăng Liên Xô cũ trở thành sắt vụn trong các lò tái chế. Bắc Triều Tiên đã nhận được vài chiếc T-72 "sắt vụn" còn nguyên vẹn. Sau một thời gian nghiên cứu, miền Bắc đã nắm bắt được các công nghệ dùng trong T-72. Ngoài ra, còn có nguồn tin[cần dẫn nguồn] cho rằng CHDCND Triều Tiên cũng đã tiếp nhận các công nghệ dùng trong xe tăng T-80 của Liên Xô và xe tăng Kiểu 88 của Trung Quốc. Tháng 8 năm 2001, khi lãnh tụ Kim Chính Nhật thăm Nga, ông cũng đã ghé qua nhà máy xe tăng Omsk TraskMash, nơi sản xuất xe tăng T-90S và nghe đâu[cần dẫn nguồn] đã mua một chiếc về nghiên cứu. Tất cả những điều này đã giúp đỡ Bắc Triều Tiên rất nhiều trong việc hiện đại hóa Thiên Mã Hổ và thiết kế Bão Phong Hổ.

Chiếc Bão Phong Hổ đầu tiên ra đời năm 1992 tại nhà máy Ryu Kyong-su ở Tân Hưng, tỉnh Nam Hamgyong[3]. Số lượng Bão Phong Hổ hiện nay không nhiều, dự đoán chỉ dưới 250 chiếc, nguyên do là nền kinh tế yếu kém CHDCND Triều Tiên không đủ sức cung ứng và duy trì một lượng Bão Phong Hổ đông đảo, đồng thời bản thân CHDCND Triều Tiên cũng không nắm được một số công nghệ cốt lõi trong việc chế tạo xe tăng. Các thông tin về Bão Phong Hổ được giữ tuyệt mật, và mãi đến buổi trình diễn năm 2002 thì các nước khác mới biết đến sự tồn tại của nó.

Đặc điểm kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Bão Phong Hổ được chế tạo trên cơ sở phiên bản xe tăng T-72.
Bão Phong Hổ có vũ khí chính giống T-80.
Xe tăng T-90, được phía Bắc Triều Tiên cho rằng mạnh ngang ngửa Bão Phong Hổ.
Bão Phong Hổ giống xe tăng Bạch Nga T-72.

Mặc dù chính quyền CHDCND Tiều Tiên tuyên bố là Bão Phong Hổ có sức mạnh ngang ngửa T-90 của Nga, nhưng nhiều người cho rằng nó chỉ đạt mức độ của T-72 hoặc các xe tăng thế hệ thứ 2,5 khác. Bão Phong Hổ có thể tốt hơn xe tăng K1 hoặc M48A5K, nhưng so với K1 PIP, K1A1, K2 Báo đen nó vẫn yếu thế hơn.[4][5]

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Bão Phong Hổ được trang bị pháo nòng trơn 125 ly giống như T-80, bắn đạn phá giáp chống tăng. Xe tăng này cũng được trang bị một đại liên đồng trục và một đại liên phòng không, bốn tên lửa nhưng không rõ loại nào. Nếu là tên lửa xách tay phòng không (MANPADS), nó có thể giống 9K38 Igla, 9K32-Strela-2, Hwasung-Chong. Nếu là tên lửa chống tăng tự dẫn hướng (ATGM), nó có thể là bản sao của 3M6 Shmel, 9M14 Malyutka, Susong-Po.

Giáp trụ và thân xe[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng có thân xe kiểu T-72 với 6 cặp bánh xích. Giáp trước và giáp tháp pháo dạng composite hoặc giáp hộp, được gia cố dày thêm nhiều. Có thể Bão Phong Hổ mang giáp của T-80U hoặc các loại T-72 đời mới, có thể chống được đạn TOW, DPICM, đạn nổ HEAT, đạn súng chống tăng và đạn pháo xuyên giáp cỡ 105mm, nhưng khó có thể chống chịu đạn động năng APFSDS cỡ 120 ly của Nam Triều Tiên. Bão Phong Hổ cũng được trang bị gạch ERA, nhưng do tài chính eo hẹp nên nó chỉ được lắp đặt ở một số vị trí. Xe tăng này cũng có thể lặn sâu 5 m.

Động cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Một số thông tin cho rằng[cần dẫn nguồn] động cơ của Bão Phong Hổ có công suất lên tới 1.500 mã lực, nhưng chắc con số 1000-1100 mã lực đáng tin hơn. Bản thân Bắc Triều Tiên đã bác bổ kế hoạch trang bị các động cơ 1.250 mã lực (930 kilôwatt) của T-80, bởi nó không phù hợp trong điều kiện địa hình hẹp, nhiều đồi núi như Triều Tiên, và cũng không hợp đối với nhiệm vụ phòng thủ. Tuy nhiên, tốc độ và gia tốc của Bão Phong Hổ rất cao, nhờ đó trong tấn công, nó có thể nhanh chóng giao chiến với đối thủ (đây là một đặc điểm nổi bật trong chiến thuật của Bắc Triều Tiên).

Hệ thống thiết bị kỹ thuật bên trong[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết kế của xe tăng không có nhiều chi tiết kỹ thuật tân tiến của các xe tăng mà nó lấy làm mẫu, nhưng nhờ vậy khối lượng được giảm đi, tốc độ và tính cơ động tăng, giúp Bão Phong Hổ tác chiến dễ dàng hơn ở các địa hình đồi núi, đầm lầy, sông hồ Triều Tiên. Bão Phong Hổ không sử dụng hệ thống nạp đạn tự động vì theo họ nó có khối lượng lớn, choán nhiều chỗ chứa đạn, tốc độ nạp đạn cũng không hơn đáng kể. Hệ thống điều khiển bắn (FCS) lấy của T-72, cũng có nguồn tin lấy từ xe tăng ChieftainIran đã bán (một cách bí mật) cho Bắc Triều Tiên. Vì vậy có thể hệ thống nhìn đêm PMK-3, PNK-4, kính ngắm tiềm vọng thụ động/chủ động 1K13-49 sẽ xuất hiện trong Bão Phong Hổ. Bão Phong Hổ cũng có thể trang bị hệ thống phòng thủ chủ động, có thể là loại ARENA (dù chất lượng không tốt lắm). Để tăng khả năng nhìn đêm, thiết bị nhìn hồng ngoại TPN-3-49, TPN-4 cùng với thiết bị xác định khoảng cách bằng tia laser cũng được sử dụng.

Các trang bị này rõ ràng là kém hơn đối thủ Nam Triều Tiên, nên Bão Phong Hổ tỏ ra yếu thế trong việc tác chiến tầm xa. Nhưng khi chiến đấu tầm trung hoặc tầm gần, nó vẫn được xem là đối thủ nặng ký.

So sánh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bảng dưới, xe tăng Bão Phong Hổ được so sánh với các xe tăng T-80U, K1, K1A1, và K2 Báo đen của quân đội Hàn Quốc, xe tăng M1A2 của quân đội Hoa Kỳ đóng tại Hàn Quốc và xe tăng T-90 của Nga. So sánh với K1, K1A1, K2, T-80U và M1A2 vì đây có thể là đối thủ chính của Bão Phong Hổ trên chiến trường (nếu xảy ra chiến tranh với Hàn Quốc), còn so sánh với T-90 vì các cơ quan tuyên truyền của CHDCND Triều Tiên luôn cho rằng Bão Phong Hổ rất giống với T-90. [4][5]

Xe tăng Bão Phong Hổ (suy đoán) K1 K1A1 K2 T-80U T-90 M1A2
Nước sản xuất  CHDCND Triều Tiên  Hàn Quốc  Hàn Quốc  Hàn Quốc  Liên Xô  Nga Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Vũ khí chính 125 mm Smoothbore (2A46) 105 mm Rifled (KM68A1) 120mm / L44 Smoothbore (KM256) 120mm / L55 Smoothbore 125 mm Smoothbore (2A46M-1) 125 mm Smoothbore (2A46M-1) 120 mm Smoothbore / L44 (M256)
Vũ khí phụ 14.5 mm KPVT Heavy Machine Gun, 7.62 mm PKT Coaxial Machine Gun, possibly hull-mounted MANPADS 12.7 mm K6 Heavy Machine Gun, 7.62 mm M60 Pintle-Mounted Machine Gun, 7.62 mm M60 Coaxial Machine Gun 12.7 K6 mm Heavy Machine Gun, 7.62 mm M60 Pintle-Mounted Machine Gun, 7.62 mm M60 Coaxial Machine Gun 12.7 K6 mm Heavy Machine Gun, 7.62 mm M60 Coaxial Machine Gun 12.7 mm NSVT Heavy Machine Gun, 7.62 mm PKT Coaxial Machine Gun 12.7 NSVT mm Heavy Machine Gun, 7.62 mm PKT Coaxial Machine Gun, 5.45 mm AKS-74 Assault Rifle (inside storage rack) 12.7 M2HB mm Heavy Machine Gun, 7.62 mm M240 Pintle-Mounted Machine Gun, 7.62 mm M240 Coaxial Machine Gun
Loại đạn AP, HEAT, HE-FRAG APAM, HESH(HEP), APFSDS-T, HEAT-MP, HEAT-FS (New South Korean 105 mm APFSDS Shells for PIP) APFSDS-T, HEAT-MP, HE-FS (New South Korean 120 mm APFSDS Shells for PIP) APFSDS-T, HEAT-MP, KSTAM-120 and other Smoothbore 120 mm NATO rounds APFSDS-T, HEAT-FS, HE-FRAG-FS, 9M119 Svir APFSDS-T, HEAT-FS, HE-FRAG-FS, 9M119 Svir, 9M119M Refleks M1028 120mm Canister, WP, APFSDS-T, HEAT-MP
Cơ số đạn vũ khí chính 43 (±3) 47 32 40 39 43 40
Cơ số đạn vũ khí phụ 300 (14.5mm), 2,000 (7.62mm) 3,400 (12.7mm), 7,200 (7.62mm) 3,400 (12.7mm), 7,200 (7.62mm) 3,500 (12.7mm), 12,000 (7.62mm) 500 (12.7mm), 1,250 (7.62mm) 300 (12.7mm), 2,000 (7.62mm), 300 (5.45mm) 600 (12.7mm), 6,250 (7.62mm)
Cơ số tên lửa chống tăng ATGM 4 (possibly) 0 0 0 6 6 0
Vỏ giáp Cast Turret and Spaced (possibly Composite) Composite Composite Composite Composite Composite Chobham, RHA, steel encased depleted uranium mesh plating
Hệ thống bảo vệ Explosive Reactive Armour Smoke Grenade (Possible Soft-Kill for PIP) Smoke Grenade (Possible Soft-Kill for PIP) Explosive Reactive Armour, Soft- Kill: RWR, Chaff/Flares, Radar Jammer, Smoke Grenade (Non-Explosive Reactive Armour, Hard-Kill for PIP) Explosive Reactive Armour (Soft-Kill: Shtora Radar Jammer for T-80UK) Explosive Reactive Armour, Soft-Kill: Shtora Radar Jammer, Hard Kill: Arena Active Protection System Tank Urban Survival Kit (TUSK)
Hệ thống nạp đạn Bằng tay Bằng tay Bằng tay Tự động Tự động Tự động Bằng tay
Tốc độ (trên đường nhựa) 60 km/giờ 65 km/giờ 65 km/giờ 70 km/giờ 70 km/giờ 65 km/giờ 68 km/giờ
Tốc độ (trên đường gồ ghề) 40 km/giờ 40 km/giờ 40 km/giờ 52 km/giờ 40 km/giờ 45 km/giờ 48 km/giờ
Tầm hoạt động 450 km 500 km 500 km 450 km 500 km 500 km 465 km
Công suất động cơ 1100±150 mã lực 1.200 hp (890 kW) 1.200 hp (890 kW) 1.500 hp (1.100 kW) 1.250 hp (930 kW) 1.100 hp (820 kW) 1.500 hp (1.100 kW)
Hệ thống truyền lực Torsion Bar Torsion Bar & Hydropneumatic (Hybrid Suspension) Torsion Bar & Hydropneumatic (Hybrid Suspension) Semi-Active In-Arm Suspension Unit (Active In-arm Suspension Unit for PIP) Torsion Bar Torsion Bar Torsion Bar
Độ sâu tối đa khi lội nước 5m (with kit) 2.2 m (with kit) 2.2 m (with kit) 2.33 m, 4.1 m (with snorkel), 5+m (with extra submerging equipment) 1.2 m, 1.8 m (with kit), 5.5 m (with snorkel), 12.0 m (with BROD-M system) 1.2 m, 5 m (with snorkel) 1.98 m
C4I Không Không Không Không Không
Hệ thống bảo vệ NBC
Khả năng tác chiến ban đêm

Số lượng sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

 PRK CHDCND Triều Tiên 250 chiếc trở xuống, chỉ dùng ở CHDCND Triều Tiên.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Yoo, Yong Won, Park, Chan-Jun, Jonchamania & Hweori 33 (2007-10-28). “유용원의 군사세계”. Chosun. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2007. 
  2. ^ Hong, Gyung Hwan (2007-03-03). “The North Korean P'okpoong-Ho tank”. Gonews. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2007. 
  3. ^ North Korea rolls out new tank. Truy cập 26 tháng 11 năm 2007.
  4. ^ a ă Kerobel (2007-11-16). “세계의 주력전차와차기전차”. ROKMC. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2008. 
  5. ^ a ă Fabio Prado (2007-06-15). “The Armor Site”. The Armor Site. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2008. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng Thiên Mã Hổ