P-700 Granit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
P-700 Granit.

P-700 Granit (tiếng Nga: П-700 "Гранит"; tiếng Anh: granite) là một tên lửa hành trình chống hạm của hải quân NgaLiên Xô (cũ). Nó có tên mã định danh GRAU3M45, tên ký hiệu NATOSS-N-19 Shipwreck. Nó có các biến thể ASCMSLCM

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

P-700 được thiết kế vào thập niên 1970 để thay thế P-70 AmetistP-120 Malakhit, cả hai tên lửa trên đều hiệu quả nhưng có tầm bắn ngắn khi đối mặt với các vũ khí cải tiến của các nhóm xung kích tàu sân bay thuộc Hải quân Mỹ. P-700 một phần xuất phát từ P-500 Bazalt.

Được chế tạo bởi Chelomei/NPO Mashinostroenia, tên lửa dài 10 m có cánh và đuôi xếp xuôi về sau, trọng lượng khoảng 7000 kg và có thể mang một đầu đạn chất nổ uy lực mạnh 750 kg, một đầu đạn chất nổ nhiên liệu khí (FAE), hoặc một đầu đạn hạt nhân 500 kt. Nó được phóng bằng cách dùng một động cơ đẩy phụ nhiên liệu rắn trước khi chuyển sang chế độ bay duy trì với động cơ turbojet KR-93, tên lửa có khe hút không khí hình khuyên đặc biệt ở mũi. Tốc độ cực đại vào khoảng Mach 1.6 và Mach 2.5. Tầm bắn đạt 550 đến 625 km.[1] Hệ thống dẫn đường sử dụng chế độ hỗn hợp, gồm hệ quán tính, radar.

Tên lửa khi đã bắn vào một nhóm tàu (4 tới 8 tàu) có một chế độ dẫn đừong duy nhất. Một trong các tên lửa bay lên độ cao lớn hơn và chỉ định các mục tiêu trong khi các tên lửa khác tấn công. Tên lửa chịu trách nhiệm chỉ định mục tiêu bay bây lên cao hơn, nhằm chống bị đánh chặn. Tên lửa được liên kết bằng các kết nối dữ liệu, tạo thành một mạng dữ liệu. Tên lửa có thể phân biệt các mục tiêu, phát hiện các nhóm tàu chiến và tự động ưu tiên mục tiêu nào cần phải tiêu diệt trước sử dụng thông tin thu thập được trong suốt chuyến bay và các loại tàu và các trận chiến đã được lập trình sẵn trong một máy tính trong tên lửa. Chúng sẽ tấn công các mục tiêu theo thứ tự ưu tiên, từ cao nhất tới thấp nhất: sau khi phá hủy các mục tiêu đầu tiên, tên lửa còn lại sẽ tấn công mục tiêu ưu tiên tiếp theo.[2][3].

P-700 được bắt nguồn từ P-500 Bazalt, thay thế các động cơ đẩy nhiên liệu rắn của các tên lửa trứoc đó bằng một động cơ turbojet. P-700 đã được lần lượt phát triển thành P-800 Oniks, sử dụng các động cơ đẩy ramjet, và tên lửa BrahMos, một sự hợp tác giữa Ấn Độ và Nga để hiện đại hóa P-800.

Trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

Ống phóng SS-N-19 trên tàu Frunze thuộc lớp tàu tuần duơng Kirov.

P-700 được trang bị đầu tiên cho tàu tuần duơng Kirov (hiện nay là tàu Admiral Ushakov) vào năm 1980. P-700 hiện đang trang bị trong Hạm đội Biển Bắc trên tàu tuần duơng lớp Kirov mang tên Admiral NakhimovPyotr Velikhy, và tàu sân bay Kuznetsov và cũng được trang bị cho tàu ngầm (tàu Kursk mang 24 tên lửa loại này). Tuy nhiên, kích thước của tên lửa đã hạn chế đến việc trang bị cho tàu chiến và tàu ngầm.

Quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các thông số kỹ chiến thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Tên: P-700 (SS-N-19)
Loại: tên lửa hành trình chống hạm tầm xa
Quốc gia phát triển: Nga
Trọng lượng: 7000 kg
Chiều dài: 10 m
Đường kính: 0.85 m
Đầu đạn: 750 kg HE (không rõ thành phần, có thể là RDX hoặc tuơng tự) hoặc phân hạch 500 kt
Hệ dẫn đường: quán tính, radar chủ động, và hệ thống chỉ thị mục tiêu vệ tinh Legenda (có thể đã ngừng sử dụng sau sự sụp đổ của Liên Xô)
Giới hạn G: 18
Tốc độ cực đại: 1.6-2.5
Tầm bắn: 550 – 625 km
Cơ cấu phóng: Kirov CGN, Kuznetsov CVG, Oscar SSGN

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jane's Underwater Weapon Systems 2006-2007

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • www.dtig.org Russian/Sovjet Sea-based Anti-Ship Missiles (pdf)