Pagurus bernhardus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Pagurus bernhardus
Pagurus bernhardus.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Arthropoda
Phân ngành (subphylum) Crustacea
Lớp (class) Malacostraca
Bộ (ordo) Decapoda
Họ (familia) Paguridae
Chi (genus) Pagurus
Loài (species) P. bernhardus
Danh pháp hai phần
Pagurus bernhardus
(Linnaeus, 1758)
Danh pháp đồng nghĩa [1]
  • Bernhardus typicus Dana, 1851
  • Cancer bernhardus Linnaeus, 1758
  • Eupagurus bernhardus (Linnaeus, 1767)
  • Pagurus streblonyx Leach, 1815
  • Pagurus ulidianus Bell, 1845

Pagurus bernhardus là một loài cua ẩn sĩ biển phố biến ở bờ biển Đại Tây Dương của châu Âu. Nó dài khoảng 3,5 xentimét (1,4 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ],[2] và được tìm thấy ở cả các khu vực cát và đá, từ các vùng biển Bắc Cực của Iceland, SvalbardNga xa tận phía nam đến Bồ Đào Nha, nhưng không kéo đến tận Địa Trung Hải. Nó có thể được tìm thấy ở các vũng nước trên bờ biển và tại mức thủy triều trung bình đến độ sâu khoảng 140 mét (460 ft), với một số tiêu bản thường được tìm thấy ở các vũng nước trên đá quanh các khu vực giữa bờ và bờ thấp hơn, với các cá thể lớn hơn ở dưới sâu. P. bernhardus là một loài ăn mảnh vụn ăn tạp[3][4]ăn xác chết một cách cơ hội,[5] và cũng ăn lọc khi cần thiết.[6]

Pagurus bernhardus sử dụng vỏ sò của một số loài sò để làm nơi bảo vệ nó, bao gồm vỏ của Littorina littorea, Littorina obtusata, Nassarius reticulatus, Gibbula umbilicalis, Nucella lapillusBuccinum.[7][8] Trong các khu vực ấm hơn của phạm vi phân bố, hải quỳ Calliactis parasitica thường mọc trên vỏ có Pagurus bernhardus. Ở các xứ lạnh hơn, loài hải quỳ là Hormathia digitata. Loài cua ẩn sĩ này đánh nhau để tranh giành vỏ sò và chỉ ưa thích vỏ một số loài sò.[8]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Michael Türkay (2011). Pagurus bernhardus (Linnaeus, 1758)”. Trong R. Lemaitre & P. McLaughlin. World Paguroidea & Lomisoidea database. World Register of Marine Species. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2011. 
  2. ^ E. Wilson (2007). “Hermit crab – Pagurus bernhardus. Marine Life Information Network. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2009. 
  3. ^ Ernst S. Reese (1969). “Behavioural adaptations of intertidal hermit crabs”. American Zoologist 9 (2): 343–355. doi:10.1093/icb/9.2.343. JSTOR 3881807. 
  4. ^ J. H. Orton (1927). “On the mode of feeding of the hermit crab Eupagurus bernhardus and some other decapods”. Journal of the Marine Biological Association of the United Kingdom 14 (04): 909–921. doi:10.1017/S0025315400051146. 
  5. ^ M. E. Laidre & R. W. Elwood (2008). “Motivation matters: cheliped extension displays in the hermit crab, Pagurus bernhardus, are honest signals of hunger”. Animal Behaviour 75 (6): 2041–2047. doi:10.1016/j.anbehav.2007.11.011. 
  6. ^ S. A. Gerlach, D. K. Ekstrøm and P. B. Eckardt (1976). “Filter feeding in the hermit crab, Pagurus bernhardus”. Oecologia 24 (3): 257–264. doi:10.1007/BF00345477. JSTOR 4215284. 
  7. ^ “Common hermit crab (Pagurus bernhardus)”. ARKive. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2009. 
  8. ^ a ă Brian A. Hazlett (1967). “Interspecific shell fighting between Pagurus bernhardus and Pagurus cuanensis (Decapoda, Paguridea)”. Sarsia 29 (1): 215–220. doi:10.1080/00364827.1967.10411083. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]