Palau

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tọa độ: 7°20′59″B, 134°30′35″Đ

Cộng hoà Palau
Beluu er a Belau
Flag of Palau.svg Seal of Palau.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Palau
Quốc ca
Belau loba klisiich er a kelulul
Hành chính
Chính phủ Chính phủ Dân chủ tổng thống cộng hoà
Tổng thống Johnson Toribiong
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Anh, Tiếng Palau, Tiếng Nhật
Thủ đô Melekeok¹
7°21′B, 134°28′Đ
Thành phố lớn nhất Koror
Địa lý
Diện tích 459 km²
177 mi²
Diện tích nước không đáng kể %
Múi giờ UTC+9
Lịch sử
1 tháng 10 năm 1994 Ngày
Dân cư
Tên dân tộc Người Palau
Dân số ước lượng (7/2007) 20.842 người (hạng 217)
Mật độ (hạng 155)111 người/mi²
Kinh tế
GDP (PPP) (2006) Tổng số: $157,7 triệu² (hạng chưa xếp hạng)
Bình quân đầu người: $10.000 (ước tính 2006) (hạng chưa xếp hạng)
HDI (2003) không có chưa xếp hạng (hạng không có)
Đơn vị tiền tệ Dollar Mỹ (USD)
Thông tin khác
Mã ISO 3166-1 PW
Tên miền Internet .pw
Mã điện thoại 680

¹ Vào ngày 7 tháng 10 2006, văn phòng chính phủ di chuyển văn phòng từ thủ đô cũ Koror đến Melekok, nằm ở 20 km (12 mi) phía đông bắc Koror trên Đảo Babelthaup. ² Ước tính GDP bao gồm cả tiền viện trợ của Mỹ (ước tính 2004)

Palau (phiên âm theo IPA: [pɑˈlaʊ], [pəˈlaʊ]), tên địa phương: Belau, tên đầy đủ là Cộng hòa Palau, là một đảo quốcThái Bình Dương, cách Philippines 500 dặm về phía đông, và Tokyo (Nhật Bản) 2000 dặm về phía Nam.

Tuy đây là một vùng đất có từ lâu đời nhưng mãi năm 1995, Palau mới chính thức trở thành một quốc gia được Liên Hiệp Quốc công nhận sau thời gian dài chịu sự quản lý của Hoa Kỳ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Palau

Những cư dân đầu tiên ở Palau được cho là những người đến từ Indonesia vào khoảng 2.500 năm TCN

Do vị trí của đảo này nằm ở ngưỡng cửa phía Tây của châu Đại Dương và gần vùng Đông Nam Á cho nên dân cư ở đây là những người lai có sự pha trộn giữa những nhóm dân tộc Mã Lai, Melanesia, FilipinoPolynesia.

Nhà hàng hải Tây Ban Nha Ruy Lóper de Villalobos thám hiểm quần đảo này năm 1543. Quần đảo này là thuộc địa của Tây Ban Nha từ năm 1886, được bán lại cho Đức năm 1899, bị Nhật chiếm đóng từ năm 1919. Năm 1947, Palau thuộc lãnh thổ của Liên Hiệp Quốc đặt dưới sự ủy trị của Hoa Kì, Palau trở thành quốc gia độc lập ngày 1 tháng 10 năm 1994 và gia nhập tổ chức Liên Hiệp Quốc cũng trong năm 1994.

Khảo cổ học[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều cư dân Palau đầu tiên có lễ đến từ Polynesiachâu Á. Dựa trên nguồn gốc của một gia đình, người Palau có lẽ đại diện cho nhiều phần của Melanesia, Micronesia và Polynesia. Tuy nhiên, theo truyền thống họ không được coi là người Micronesia.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Palau hiện theo chính thể Chính phủ lập hiến trong liên hiệp tự do với Hoa Kỳ. Hiệp ước liên hiệp tự do này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 1994.

Palau là một nước cộng hòa dân chủ tổng thống đại diện, theo đó Tổng thống Palau là người đứng đầu nhà nước và đứng đầu chính phủ. Quyền hành pháp thuộc chính phủ, trong khi quyền lập pháp thuộc cả chính phủ và Đại hội đại biểu toàn quốc Palau tức quốc hội Palau. Tư pháp độc lập với hành pháp và cơ quan lập pháp.

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy theo chính thể chính phủ lập hiến liên hiệp tự do với Hoa Kỳ nhưng Palau là một quốc gia có chủ quyền, Palau có quyền thực hiện các quan hệ đối ngoại của riêng mình. Từ khi giành được độc lập, Palau đã thiết lập quan hệ ngoại giao với một số quốc gia, trong đó có nhiều nước láng giềng ở châu Đại Dương. Palau công nhận là thành viên của Liên Hiệp Quốc vào ngày 15 tháng 12 năm 1994, và kể từ đó Palau đã tham gia vào một số tổ chức quốc tế khác. Trong tháng 9 năm 2006, Palau đã tổ chức đầu tiên Hội nghị thượng đỉnh Đồng minh một hội nghị hợp tác giữa Đài Loan và các quốc gia ở Thái Bình Dương, Tổng thống Palau cũng đã đi thăm chính thức các nước trong khu vực châu Đại Dương và châu Á Thái Bình Dương, bao gồm cả Đài Loan.

Hoa Kỳ duy trì các đoàn đại biểu ngoại giao và có một đại sứ quán ở Palau, nhưng hầu hết các mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước đều không lớn, chủ yếu là Hoa Kỳ tài trợ các dự án ở Palau.[1]

Từ năm 2004, Palau đã cùng Hoa Kỳ và Israel là các quốc gia duy nhất bỏ phiếu phản đối với các nghị quyết hàng năm của Liên Hợp Quốc lên án Hoa Kỳ cấm vận chống Cuba đã được diễn ra từ năm 1962.

Ngày 5 tháng 10 năm 2009, Palau chính thức thiết lập ngoại giao và quan hệ thương mại với Malaysia và ông Morris Davidson được bổ nhiệm làm Lãnh sự danh dự đầu tiên của Palau đến Malaysia.

Palau là một thành viên của Hiệp định Nauru.

Phân chia Hành chính Liên bang Palau[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Liên bang Palau
Bản đồ 16 tiểu bang của Palau.

Palau được chia thành 16 bang (mãi đến năm 1984 vẫn được gọi là khu tự trị):

Địa lí[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia thuộc quần đảo Micronesia, ở Tây Thái Bình Dương, phía cực Tây quần đảo. Palau gồm 326 đảo san hônúi lửa lớn nhỏ, trong đó Babeldaob là đảo chính.

Các hòn đảo đông dân nhất là Angaur, Babeldaob, Koror, và Peleliu. Ba trong số 4 đảo chính này nằm cùng nhau trong cùng một rặng san hô, trong khi Angaur là một hòn đảo nămg về phía nam đất nước. Khoảng 2/3 dân số Palau sống ở bang Koror. Các đảo san hô của bang Kayangel nằm phía bắc của 4 hòn đảo chính, trong khi các đảo đá không có người ở (khoảng 20 đảo) nằm về phía tây của nhóm 4 đảo chính. Một nhóm đảo xa gồm 6 hòn đảo, được gọi là quần đảo Tây Nam, cách 4 hòn đảo chính của quốc gia khoảng 375 dặm (604 km), đây cũng là một phần của đất nước Palau và hình thành nên các bang HatohobeiSonsorol.

Palau có khí hậu nhiệt đới quanh năm với nhiệt độ trung bình hàng năm là 82°F (28°C). Lượng mưa lớn trong suốt cả năm, trung bình tổng cộng 3.800mm mỗi năm. Độ ẩm trung bình trong suốt năm là 82%, và mặc dù mưa rơi thường xuyên hơn giữa tháng 7 và tháng 10, là vẫn còn nhiều ánh nắng mặt trời. Bão là rất hiếm, vì Palau nằm bên ngoài vành đai bão Thái Bình Dương.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nền kinh tế của Palau bao gồm chủ yếu là các ngành du lịch, nông nghiệp tự cung tự cấp, và ngư nghiệp. Hoạt động du lịch tập trung vào việc lặn biển và lặn trong môi trường biển đảo phong phú, bao gồm tham quan các bức tường san hô và xác tàu chiến bị đắm trong chiến tranh thế giới thứ hai ở ngoài khơi Palau. Chính phủ là nguồn sử dụng lao động lớn đối với lực lượng lao động quốc gia, các hoạt động kinh tế của Palau dựa nhiều vào sự hỗ trợ tài chính từ Mỹ. Lượng khách du lịch đến Palau tăng 50.000 góp phần đem lại nguồn thu lớn cho Palau trong năm tài chính 2000-2001. Dân số được hưởng mức thu nhập bình quân đầu người gấp đôi so với quốc gia láng giềng là liên bang Micronesia. Triển vọng cho ngành du lịch trọng điểm đã được hỗ trợ rất nhiều bởi việc mở rộng du lịch hàng không ở Thái Bình Dương, sự thịnh vượng ngày càng tăng của các nước Đông Á.

Trong tháng 7 năm 2004, hãng hàng không quốc gia Palau Micronesia Air đã được khai trương với các điểm đến ở Palau, Guam, Micronesia, Nhật Bản, Australia, và Philippines. Bằng cách cung cấp giá vé thấp, hãng hàng không này đã được lên kế hoạch trở thành một đối thủ cạnh tranh với hãng hàng không Continental Micronesia của Liên bang Micronesia, tuy nhiên nó không còn hoạt động trong tháng 12 năm đó, chủ yếu là do giá nhiên liệu tăng cao. Hãng hàng không Palau Micronesia Air đã không hoạt động lại từ đó nhưng hãng này đã thực hiện một loạt các liên minh liên danh hàng không với hãng hàng không Asian Spirit, với hoạt động các chuyến bay giữa Palau và Việt Nam thông qua các điểm trung chuyển hành khách là (Davao, CebuManila) của Philipines. Có hai chuyến bay hàng tuần từ Thành phố Hồ Chí Minh thông qua điểm trung chuyển hành khách ở Cebu để đến Palau và các chuyến bay hàng tuần từ Davao. Chỉ sau vài tháng hãng hàng không Asian Spirit ngừng các chuyến bay từ Philippines đến Palau.[2]

Trong tháng 11 năm 2006, các Ngân hàng Palau chính thức tuyên bố phá sản. Ngày 13 tháng 12 cùng năm ngân hàng quốc gia Horizon Palau báo cáo rằng có tổng cộng 641 người gửi tiền đã bị ảnh hưởng bởi sự kiện này. Trong số 641 tài khoản, có 398 tài khoản gửi ít hơn 5000 USD, phần còn lại khác nhau, từ 5000USD đến 2 triệu USD. Ngày 12 tháng 12, 79 người của những người bị ảnh hưởng nhận tiền đền bù, một trong số đó là từ Đài Loan, trong khi phần còn lại là các tài khoản từ Palau, Philipines và Mỹ. Ông Toribiong thống tống ngân hàng quốc gia Horizon Palau nói: "Kinh phí cho thanh toán đến từ sự cân bằng vốn vay cho Palau từ chính phủ Đài Loan".

Dân cư - tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số Palau là khoảng 21.000 người, trong đó 70% là người Palau bản địa, có nguồn gốc từ từ sự hòa huyết qua các cuộc hôn nhân giữa người Melanesia, Micronesia, và gốc châu Đại Dương. Nhiều người Palau cũng có một số gốc từ châu Á, đó là kết quả của những cuộc hôn giữa người di cư và người Palau giữa thế kỷ 1920. Người Nhật Bản là nhóm người dân tộc di cư lớn nhất, ngoài ra còn có người Trung Quốcngười Hàn Quốc. Người Philippines hình thành nhóm dân tộc ngoại lai lớn thứ hai.

Các ngôn ngữ chính thức của Palau là tiếng Palautiếng Anh, ngoại trừ hai bang (SonsorolHatohobei), nơi ngôn ngữ địa phương, cùng với tiếng Palau, là chính thức. Tiếng Nhật cũng nói rộng rãi ở Palau, và là một ngôn ngữ chính thức của bang Angaur. Tiếng Tagalog không được công nhận là ngôn ngữ chính thức tại Palau, nhưng nó là ngôn ngữ lớn thứ tư ở quốc đảo này.

Ba phần tư dân số Palau là Kitô hữu (chủ yếu là Công giáo La MãTin Lành), trong khi giáo phái Modekngei (một sự kết hợp của Kitô giáo, và các tôn giáo truyền thống Palau) và tôn giáo bản địa Palau vẫn thường được người dân tin theo. Theo điều tra dân số năm 2005, 49,4% dân số là Công giáo La Mã, Tin Lành 21,3%, 8,7% Modekngei và 5,3% Cơ Đốc Phục Lâm. Có một cộng đồng nhỏ người Do Thái theo Do Thái giáo ở Palau. Ngoài ra còn có khoảng 400 người gốc Bengal theo Hồi giáo ở Palau, và gần đây 6 người Duy Ngô Nhĩ bị giam giữ tại Vịnh Guantanamo đã được phép định cư ở Palau họ đều theo Hồi giáo.

Công giáo La Mã là tôn giáo thống trị ở Palau, khoảng 65% dân số là thành viên. Ước tính của các nhóm tôn giáo khác với một lượng tín đồ khá lớn là các Giáo hội Tin Lành có khoảng 2000 tín đồ trong đó Cơ Đốc Phục Lâm có 1.000 tín đồ, Giáo hội Mặc Môn 300 tín đồ; và Nhân Chứng Giê-hô-va có 90 tín đồ. Giáo phái Modekngei có khoảng 1.800 tín đồ. Cũng có 6.800 người theo Công giáo La Mã là người Philippines

Công giáo hiện diện ở Palau kể từ khi các linh mục dòng Tên đến Palau truyền giáo từ thế kỷ 19 hoặc sớm hơn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]