Panzer III

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Panzerkampfwagen III
PzkpfWg III Ausf. H
Panzer III Ausf. H
Loại Xe tăng hạng trung
Nguồn gốc  Đức Quốc Xã
Lược sử hoạt động
Trang bị 1939–1945
Quốc gia sử dụng  Đức Quốc Xã
 Romania
 Hungary
 Croatia
 Thổ Nhĩ Kỳ
 Na Uy
Sử dụng trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Daimler-Benz
Năm thiết kế 1935-1937
Nhà sản xuất Daimler-Benz
Giai đoạn sản xuất 1939–1943
Số lượng chế tạo 5,774 (bao gồm cả StuG III)
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 23 tấn
Chiều dài 6.41 m
Chiều rộng 2.90 m
Chiều cao 2.5 m
Kíp chiến đấu 5

Bọc giáp 5-70 mm
Vũ khí chính 1 × 3.7 cm KwK 36 Ausf. A-F
1 × 5 cm KwK 38 Ausf. F-J
1 × 5 cm KwK 39 Ausf. J¹-M
1 × 7.5 cm KwK 37 Ausf. N
Vũ khí phụ 2-3 × 7.92 mm Maschinengewehr 34
Động cơ Maybach HL 120 TRM(12 xi lanh)
300 PS (296 hp, 220 kW)
Công suất/trọng lượng 12 hp/tấn
Hệ thống treo Thanh xoắn
Tầm hoạt động 155 km
Tốc độ 40 km/h (25 mph)-trên đường, 20 km/h (12 mph)-việt dã

Panzer-III là tên một loại xe tăng hạng trung do Đức phát triển vào năm 1930 và sử dụng trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Tên kĩ thuật đầy đủ của Panzer III là Panzerkampfwagen III (Pz.Kpfw.III)-dịch sang tiếng anh:"armoured battle vehicle"-tạm dịch:phương tiện chiến đấu bọc thép.Nó được thiết kế nhằm mục đích hỗ trợ bộ binh và tấn công lực lượng thiết giáp quân địch.Đến năm 1941, Panzer-III gặp phải hai đối thủ mới từ Liên Xô, đó chính là T-34 và dòng KV.Hai loại tăng này đều có pháo chính và lớp giáp bọc dày và mạnh hơn rất nhiều so với Panzer-III.Ngay lập tức, Panzer-IV(trang bị pháo chính 7.5 cm KwK 40) ra đời thay thế cho Panzer-III và tiếp đó là Panther.Biến thể cuối cùng của Panzer-III đó chính là phiên bản được trang bị pháo chính 7.5 cm KwK 37 L/24.Việc sản xuất Panzer-III nhằm phục vụ cho chiến trường chính thức kết thúc vào năm 1943, tuy nhiên khung tăng của nó vẫn còn được sản xuất đến tận năm 1944-cung cấp cho pháo tự hành diệt tăng StuG-III.

Lược sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 11/1/1934, Heinz Guderian đứng đầu lực lượng quân đội Đức dự định thành lập một dự án phát triển tăng hạng trung mới thoả mãn những yêu cầu như trọng lượng tối đa 24.000 kg và đạt tốc độ tối đa khoảng 35 km/h.Nó được thiết kế nhằm bổ sung thêm cho lực lượng thiết giáp Đức bấy giờ. Tất cả các hãng sản xuất thiết giáp nổi tiếng nhất nước Đức như Daimler-Benz, Krupp, MAN, và Rheinmetall đều được chỉ thị sản xuất các mẫu mã.Việc thử nghiệm và xem xét các bản thiết kế của các tập đoàn được thực hiện vào năm 1936-1937.Cuối cùng bản thiết kế của tập đoàn Daimler-Benz được chọn làm mẫu chính để sản xuất.Panzer III Ausf.A(mẫu đầu tiên) được đưa vào sản xuất chính thức vào tháng 5/1937, mười chiếc được sản xuất(trong đó có hai chiếc không được lắp ráp vũ khí).Việc sản xuất phiên bản Panzer III Ausf.F bắt đầu vào năm 1939.

Vào giữa năm 1937-1940, tập đoàn Krupp và Daimler-Benz bắt đầu việc nghiên cứu và chuyển đổi bộ phận nhằm chuẩn bị cho quá trình thiết kế Panzer IV.

Sau khi sản xuất được một vài mẫu, vấn đề thay thế bộ phận treo hiện tại bằng một hệ thống khác hoàn chỉnh hơn được đặt ra.Một vài hệ thống treo đã được lắp ráp thử nghiệm trên Panzer III Ausf.A và Ausf.D.Daimler-Benz chọn thanh xoắn chuyển động lực làm bộ phận treo cho dòng Panzer-III.Trong thời điểm này, Panzer-III và KV là hai loại tăng duy nhất sử dụng hệ thống treo này.

Khi được xuất xưởng, với những tính năng đặc biệt như:kíp lái 3 người-hỗ trợ một cách tốt nhất trong việc phòng thủ, liên lạc cũng như điều khiển vũ khí;một pháo chính và hai pháo phụ;hệ thống treo mới giúp cho động cơ có sức vận động mạnh và nhanh hơn, Panzer III đã từng một thời làm mưa làm gió trên chiến trường nhưng đến khi hai dòng tăng chủ lực của Liên Xô là T-34 và KV(KV-I và KV-II) xung trận thì Panzer III đã tỏ ra yếu thế hơn.Chính vì thế, dự án nâng cấp Panzer III do Daimler-Benz thành lập nhằm thay pháo chính của Panzer III lên pháo có cỡ nòng 50 mm, bọc giáp lại phần trước và sườn(do tăng KV của Liên Xô có sức công phá lớn nhưng hay bắn trượt khiến cho viên đạn làm tung giáp sườn của Panzer).Sau khi dự án hoàn thành, Panzer-III đã trở nên ngang bằng với các phiên bản đầu của T-34, buộc người Liên Xô phải nghiên cứu và nâng cấp lại T-34.

Vào năm 1942, phiên bản cuối cùng của Panzer-III là Ausf.N được hoàn thành.Ausf.N được trang bị pháo chính 75 mm KwK L/24, hai súng phụ có tầm ngắm gần để phòng vệ trước bộ binh.Để tăng sức công phá, Panzer III Ausf.N sử dụng loại đạn có sức xuyên từ 70–100 mm giáp trước và sườn.

Thiết kế đĩa xích của các phiên bản Panzer III

Phát xít Nhật có đặt mua hai chiếc Panzer III từ Đức Quốc Xã với mục đích sử dụng để nghiên cứu và thử nghiệm, tuy nhiên do quân Nhật không chú trọng lắm vào việc chế tạo thiết giáp mà chỉ lo chế tạo các loại chiến hạm, hàng không mẫu hạm cũng như tàu ngầm nên mặc dù mua từ Đức Quốc Xã nhưng số tăng này nhanh chóng bị di chuyển vào các kho hàng.Đến năm 1943, phát xít Đức dừng việc chuyển xe tăng Panzer III cho lục quân Nhật.

Lớp giáp bọc[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản Panzer III Ausf.A đến phiên bản Ausf.C đều có lớp giáp trên đỉnh bằng thép dày 10 mm, phần sau dày 5 mm.Tuy nhiên do lớp giáp bọc này quá mỏng khiến cho việc bảo vệ kíp chiến đấu cũng như xe tăng rất yếu, dẫn đến việc bọc giáp lại phần trước, sườn và phía sau đều dày trên 30 mm.Tất cả các phiên bản Ausf.D.E.F và G đều được thu hồi và bọc giáp lại.Panzer III Ausf.H là phiên bản duy nhất có phần giáp bọc bằng thép tôi lại dày hơn 30 mm ở mặt trước và sau.Ausf.J có lớp giáp bằng kim loại dày 50 mm ở mặt trước, sườn và sau.Các mẫu khác như Ausf.J(1).L và M có lớp giáp dày 20 mm trên đỉnh và phần giữa khung.Sau khi dự án cải thiện phần giáp được hoàn thành, Panzer III có lớp giáp bọc dày nhất thời đó, khiến cho nó rất khó bị xuyên thủng bởi đa phần số pháo tự hành chống tăng của Liên Xô và Đồng Minh.

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Panzerbefehlswagen (tăng chỉ huy) III ausf E hoặc F(trang bị pháo chính 37 mm và hai súng máy) tại Hy Lạp

Panzer III được trang bị pháo chính 50 mm, 37 mm PaK 36.Vì pháo 50 mm yêu cầu tăng phải có diện tích trống rộng hơn nên phần đai trục nòng tăng được thiết kế to ra, thân tăng được làm rộng hơn. Từ phiên bản Ausf.A đến Ausf.F đều được trang bị pháo chính 3.7 cm KwK 36 L/46.5, tuy nhiên loại pháo này có sức xuyên giáp và công phá rất kém, dẫn đến việc trang bị lại pháo 5 cm KwK 38 L/42 cho các phiên bản Ausf.F và J.Phiên bản Ausf.J(1) và M được lắp pháo 5 cm KwK 39 L/60 dài và mạnh hơn.Phiên bản Ausf J(1) có sức công phá đặc biệt mạnh, điều này đã được thể hiện tại chiến trường Bắc Phi, khi đối đầu với xe tăng Anh, Ausf.J(1) đã dễ dàng loại các loại tăng này ngay lập tức. Vào năm 1942, khi Panzer IV và Panther trở thành hai loại tăng chủ lực của Đức Quốc Xã trên chiến trường thì Panzer III lại trở thành tăng hỗ trợ bộ binh.Nó được trang bị pháo phụ tầm gần 7.5 cm KwK 37 L/24-được dùng trong các phiên bản Panzer IV Ausf.A-F.

Các phiên bản đời đầu đều có trang bị hai súng máy phụ 7.92 mm MG 34 nối bằng trục gần hai pháo chính.Nhưng từ phiên bản Ausf.G trở đi thì số súng phụ giảm xuống chỉ còn một khẩu MG 34 và một thanh đồng trục nối vào thân.

Độ linh động[sửa | sửa mã nguồn]

Động cơ[1] của Panzer III

Panzer III Ausf.A-C đều được trang bị động cơ Maybach HL 108 TR(12 xi lanh;250 mã lực) có thể đạt vận tốc tối đa vào khoảng 35 km/h và hoạt động trong tầm 150 km.Các phiên bản đời sau được trang bị lại động cơ Maybach HL 120 TRM(12 xi lanh;300 mã lực) đều có vận tốc tối đa vào khoảng 40 km/h(còn tuỳ thuộc vào bộ truyền lực, sự hoạt động của tay đòn lực cũng như trọng lượng), và tầm hoạt động tăng thêm 5 km nữa lên 155 km.

Lược sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Panzer III tham gia tất cả các chiến dịch từ Châu Âu đến Bắc Phi.Một bộ phận các sư đoàn tinh nhuệ Panzer III có tham gia trận Normandy vào năm 1944.

Trong chiến dịch Ba LanPháp, chỉ có vài trăm chiếc Panzer III được huy động tham gia chiến đấu.Các phiên bản Ausf.A-F với lớp giáp gần 50 mm và được trang bị pháo chính 37 mm đã loại các loại thiết giáp Anh, Ba Lan và Pháp khác như Polish 7TP, French R-35 và H-35 một cách rất dễ dàng trong các trận đấu trực diện.Panzer III được đánh giá là loại tăng hạng trung tốt nhất thời bấy giờ.

Một chiếc Panzerkampfwagen III tại bảo tàng chiến tranh Mỹ, Aberdeen, Maryland

Trong cuộc hành quân Barbarossa, Panzer III là loại tăng hạng trung chính với số lượng được huy động với hàng ngàn chiếc.Cũng trong thời điểm này, các phiên bản mới như Ausf.E-F-G và H(được trang bị pháo chính 50 mm KwK L/42) đều được xuất xưởng và đưa thẳng ra chiến trường.Tuy nhiên, số Panzer III đã vấp phải một số vấn đề khi đối đầu với T-34KV, ngay lập tức các mẫu Panzer IV đầu tiên được gấp rút huy động để có thể cân bằng lại mặt trận.Nhưng vì số lượng T-34 và KV hiện tại chưa nhiều, chiếm đa số hiện tại là tăng hạng nhẹ T-26BT.Số Panzer III với kíp lái được rèn luyện kĩ, vũ khí và lớp giáp bọc tốt đã đánh chiếm và tiêu diệt được số tăng Liên Xô một cách dễ dàng, đánh một tỉ lệ 6:1-nghiêng về phe Đức.

Cuối chiến dịch Barbarossa, hai dòng tăng T-34 và KV được Liên Xô nhân rộng sản xuất.Ngay lập tức, Panzer III được cải tiến lại với pháo chính 50 mm.Nhưng phiên bản cải tiến này vẫn không thể hạ đo ván được T-34 và KV.Vào mùa xuân 1942, dự án thay thế pháo chính hiện tại bằng pháo 50 mm KwK 39 lắp trên Panzer III Ausf.J(1) được hoàn thành.Điều bất ngờ đã xảy ra khi phiên bản J(1) có thể xuyên được giáp trước của T-34 từ khoảng cách 500 m và tốn nhiều lần bắn để có thể xuyên thủng được giáp của KV.

Vào năm 1943, phiên bản Ausf.L được lắp thêm phần giáp váy(schürzen) để chống lại lựu đạn và các loại pháo tự hành chống tăng.Trong trận vòng cung Kursk, Panzer III có nhiệm vụ chính là hỗ trợ bộ binh và nhường lại vai trò chính cho Panzer IVPanther(tăng con báo).

Panzer III được thiết kế để trở thành tăng có kíp lái ba người(pháo thủ, người thay đạn và chỉ huy).Vì thế chỉ huy tăng có thể tập trung vào việc điều khiển và quan sát bên ngoài lẫn bên trong.Đa số các loại tăng vào năm 1930 đều có cách thiết kế này.Kiểu kíp lái này có ưu điểm là:kíp lái có thể linh động theo tình huống, chỉ huy có thể tập trung vào việc quan sát, nhưng có nhược điểm là:không có người điều khiển điện đàm giúp cho việc chuyển tải thông tin không được thông suốt, số pháo thủ quá ít khiến cho việc thay đạn và khai hoả chậm gây nguy hiểm cho xe tăng.

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • Panzer III Ausf.A-B-C-D:tái sản xuất vào năm 1937-1938.75 chiếc các loại được sản xuất.
  • Panzer III Ausf.E-F:bắt đầu sản xuất từ năm 1939-1940.Trang bị pháo chính 3.7 cm KwK 36 L/46.5(sau này thay lại bằng pháo 5 cm KwK 38 L/42).531 chiếc các loại được sản xuất.
  • Panzer III Ausf.G:bọc thêm giáp phần trước và tháp pháo.Trang bị pháo chính 5 cm KwK 38 L/42.Từ năm 1940-1941, có khoảng 600 chiếc được sản xuất.
  • Panzer III Ausf.H:sửa đổi chút ít lại kết cấu.Bọc thêm giáp phần trước và phần sau(tổng cộng 60 mm phần trước gồm 30 mm giáp bọc và 30 mm phần bảo vệ đĩa).Từ năm 1940-1941, có khoảng 308 chiếc được sản xuất.
  • Panzer III Ausf.I:biến thể có trong bản báo cáo của quân Đồng Minh, tuy nhiên không có bằng chứng nào chứng tỏ rằng đã từng có loại biến thể này.
  • Panzer III Ausf.J:phần thân tăng được thiết kế lại dài hơn.Phần giáp trước dày 50 mm.Có 482 chiếc[2] được sản xuất.
  • Panzer III Ausf.J(1):được trang bị lại pháo chính 5 cm KwK 39 L/60 dài và mạnh hơn.Từ cuối năm 1941 đến giữa năm 1942, có khoảng 1067 chiếc được sản xuất.
  • Panzer III Ausf.K:phiên bản tăng chỉ huy(Panzerbefehlswagen) với tháp pháo được sửa chữa lại(không có vũ khí-lắp pháo giả).Thiết kế ngăn chứa đạn và chỗ trống bên trong rộng hơn.
  • Panzer III Ausf.L:tăng giáp trước lên 70 mm(giáp trước+phần bảo vệ đĩa).Có 653 chiếc[3] được sản xuất.
  • Panzer III Ausf.M:phiên bản được sửa chữa nhỏ ở phần sáng gầm và giáp váy.Từ năm 1942-1943, có khoảng 250 chiếc được sản xuất.
  • Panzer III Ausf.N:phiên bản được trang bị pháo chính ngắn 7.5 cm KwK 37 L/240-sử dụng loại đạn HEAT.Từ năm 1942-1943, có khoảng 700 chiếc được sản xuất và sửa chữa.

Các mẫu tăng thiết kế dựa trên khung tăng Panzer III[sửa | sửa mã nguồn]

  • Artillerie-Panzerbeobachtungswagen III-pháo tự hành, 262 chiếc được sản xuất.
  • Bergepanzer III:thiết kế dựa trên khung tăng Panzer III nhưng được bọc giáp dày hơn.
  • Flammpanzer III Ausf. M / Panzer III (F1):xe tăng phun lửa, 100 chiếc được sản xuất dựa trên khung tăng Panzer III Ausf.M.
  • Minenräumer III:xe dò mìn, được trang bị hệ thống giảm xóc cao, chưa bao giờ được sản xuất.
  • Panzerbefehlswagen III:xe tăng chỉ huy, được trang bị pháo giả, bọc giáp dày và có bộ điện đàm hiện đại.
  • Sturm-Infanteriegeschütz 33B:pháo tự hành xung kích, trang bị pháo chính 15 cm sIG 33.24 chiếc được sản xuất.
  • Sturmgeschütz III:pháo tự hành xung kích và diệt tăng, trang bị pháo chính 75 mm StuK.
  • SU-76i(Liên Xô):được thiết kế dựa trên khung tăng Panzer III và StuG-III mà Hồng Quân bắt được.Hơn 1200 mẫu khung này được chuyển đến các nhà máy để sản xuất, nhưng chủ yếu chuyển đến nhà máy số 38 tại Stalingrad.Số khung tăng được lược bỏ phần trên thay vào đó là tháp pháo mới có trang bị pháo chính 76.2 mm ZiS-5.Phần đặt pháo được bọc giáp dày hơn 60 mm, 50 mm ở phần trước và 30 mm ở phần sườn.SU 76i lần đầu tham trận vào mùa thu năm 1943.Hiện tại còn lại hai chiếc SU-76i:chiếc thứ nhất được trưng bày tại đài tưởng niệm tại Ukraina;chiếc thứ hai được trưng bày tại bảo tàng trên đồi Poklonnaya, Mát-xcơ-va.
  • Tauchpanzer III:một vài chiếc được chế tạo dựa trên khung tăng Panzer III thành tăng lội nước để tham gia chiến dịch Sư tử biển.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ loại động cơ Maybach HL120 TRM sau này được dùng trong Panzer IV
  2. ^ số tăng này được sản xuất vào năm 1941
  3. ^ số tăng này được sản xuất vào năm 1942

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • AFV Database
  • Surviving Panzer III tanks - A PDF file presenting the Panzer III tanks (PzKpfw. III, Flammpanzer III, StuIG33B, SU-76i, Panzerbeobachtungswagen III tanks) still existing in the world

Panzer III bei Achtungpanzer.com (engl.; mit Bildern der Ausf. A, des Minenräumpanzers u. eines Prototyps des PzKpfw III/IV mit Schachtellaufwerk)