Park Jeong-Ah

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Park.
Park Jeong-Ah
Parkjungah.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Park Jeong-Ah
Sinh 24 tháng 2, 1981 (33 tuổi)
Yeongcheon,Đường Gyeongsang,Hàn Quốc
Nghề nghiệp diễn viên
ca sĩ
người mẫu
dẫn chương trình
dẫn chương trình radio
Thể loại Pop
Pop rock
dance-pop
Nhạc cụ giọng nói
Năm 2001 – tới nay
Hãng đĩa CJ Music, Sony Music
Hợp tác Jewelry
Tên thật
Hangul 박정아
Hanja (Hán tự)
Hán-Việt Phác Trịnh Nhã
Romaja quốc ngữ Park Jeong-Ah
McCune-Reischauer Park Jeongah
Nghệ danh
Hangul 박정아
Hanja (Hán tự)
Hán-Việt Phác Trịnh Nhã
Romaja quốc ngữ Park Jung-Ah
McCune-Reischauer Park Jungah

Park Jeong-Ah (tiếng Triều Tiên: 박정아) (sinh ngày 24 tháng 2 năm 1981)Hay nghệ danh là Park Jung Ah.Cô là một ca sĩ,diễn viên,người mẫu nổi tiếng của Hàn Quốc[1][2].Cô cũng là một cựu thành viên của nhóm nhạc Jewelry[3].Năm 2003,cô bắt đầu làm diễn viên [4]

Park nổi lên như một trong những thành viên của Jewelry phổ biến hơn và đã được mọi khán giả và fan hâm mộ nhận xét là chị cả trong ban nhạc của mình [cần dẫn nguồn]. Năm 2003, cô ra mắt như một diễn viên và kể từ đó đã xuất hiện trong một số ít các bộ phim và bộ phim truyền hình.[cần thẩm tra]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1981-2001: "Cuộc sống và sự nghiệp"[sửa | sửa mã nguồn]

Park Jeong Ah sinh ngày 24 tháng 2 năm 1981 tại Yeongcheon, Gyeongsang, Hàn Quốc.Cô sinh trưởng trong 1 gia đình có 3 người con và cô là con trưởng.

2001-tới nay: "Jewelry"[sửa | sửa mã nguồn]

Park Jung Ah là thành viên của nhóm nhạc nữ kỳ cựu nhất Hàn Quốc Jewelry. Cô cùng các bạn gia nhập nhóm từ năm 2001 và là chị cả của nhóm.

Sau hai năm hoạt động khá thành công và được mến mộ tại châu Á, Jewelry bất ngờ tuyên bố giải tán.

2003-tới nay: "Điện ảnh"[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Jewelry bị giải tán,Park Jung Ah chuyển sang lĩnh vực điện ảnh, cô đã xuất hiện trong một số bộ phim truyền hình.Smile,Donghae là bộ phim ăn khách nhất của cô.

2006: "Yeah"[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng thời, trong 5 năm từ 2003-2007, Park Jung Ah cũng phát triển sự nghiệp âm nhạc riêng và cũng khá thành công với album đầu tay mang tên Yeah, trình làng vào mùa thu năm 2006.

Đĩa đơn solo đầu tiên Yeah của Park Jung Ah đã giúp cô phát hiện ra khả năng của mình trong dòng nhạc Rock. Khả năng trình diễn live trên sân khấu và giao lưu với người hâm mộ cũng là một thế mạnh của Park.

Thông tin khác[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng tháng 11 năm 2006 tới năm 2009.Cô phát hanh ra radio show On a Starry Night[cần dẫn nguồn].Tháng 5 năm 2008,cô bất ngờ tung ra một loạt hình ảnh gợi cảm gây xôn xao cho các dư luận [5]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai diễn
2008 Frivolous Wife Cheon Yeon-soo
2005 The Big Scene Han Moo-sook
2003 Madeleine Hong Seong-hye

Phim tình cảm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai trò
2011 My One And Only Cha Do-hee
2010 Smile Again Yoon Sae-wa
Kim Sae-wa
Prosecutor Princess Jenny Ahn
2004 When a Man Loves In-hye

Discography[sửa | sửa mã nguồn]

Tên discography Thời gian phát hành
Yeah (phát hành vào ngày 25 tháng 8 năm 2006)

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

TV[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh trình chiếu Chương trình
2009-10 MBC TV Show Your Mind
2003 KBS 2TV Music Bank
MBC TV Time Machine
SBS TV Midnight TV Entertainment
2002 MTV Korea Live Wow!

Chương trình trên đài phát thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hãng phát thanh Chương trình
2006-08 MBC FM On a Starry Night
2003 KBS FM I Like Radio

[6]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng Kết quả
20th Model Line "Korea Best Dresser" (2003) Đoạt giải
KMA "This Year's Singer" (2003) Đoạt giải
KBS K-Pop Awards, "This Year's Singer" (2005) Đoạt giải
Dramas: SBS Drama When Man Love (2004) Đoạt giải
Album: 1st Album Yeah (2006) Đoạt giải

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]