Paul Samuelson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Paul Samuelson

nhà kinh tế học
Sinh 15 tháng 5, 1915(1915-05-15)
Gary, Indiana, Hoa Kỳ
Mất 13 tháng 12 năm 2009
Nơi cư trú Hoa Kỳ
Quốc tịch Hoa Kỳ
Ngành kinh tế
Học trường Đại học Chicago,Đại học Harvard
Giải thưởng Giải John Bates Clark (1947)
Giải Nobel Kinh tế (1970)
Giải thưởng Nhà nước về Khoa học, Hoa Kỳ (1996)

Paul Anthony Samuelson (15/5/1915-13/12/2009) là một nhà kinh tế học người Hoa Kỳ, đại biểu của trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp và có đóng góp to lớn ở một loạt lĩnh vực của kinh tế học. Ông là người sáng lập khoa kinh tế học lừng danh của Học viện Kỹ thuật Massachusetts. Samuelson đoạt Giải John Bates Clark vào năm 1947 (khi 32 tuổi) và Giải Nobel Kinh tế vào năm 1970 (khi 55 tuổi). Ông còn được trao Giải thưởng Nhà nước về Khoa học, Hoa Kỳ vào năm 1996.

Tiểu sử [sửa]

Samuelson sinh ngày 15 tháng 5 năm 1915 tại Gary, Indiana, Hoa Kỳ. Năm 1923, gia đình ông chuyển đến sống ở Chicago và ông đã theo đại học tại Đại học Chicago, học cao học và tiến sĩ tại Đại học Harvard. Tại Havard, ông theo đuổi lĩnh vực kinh tế học và từng thụ giáo Joseph Schumpeter, Wassily Leontief, Gottfried Haberler, và Alvin Hansen.

Những đóng góp học thuật chủ yếu [sửa]

Theo nhận xét của Kenneth Arrow, Samuelson là người sáng lập trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp, kết hợp kinh tế học vĩ mô cổ điển với kinh tế học Keynes. Ông đã góp phần to lớn để phát triển phương pháp phân tích cân bằng tổng thể trong kinh tế học.

Trong kinh tế học phúc lợi, ông đã góp phần đưa ra lý luận Điều kiện Lindahl-Bowen-Samuelson (tiêu chí để xác định xem một hành động của một chủ thể kinh tế có làm tăng phúc lợi hay không), góp phần đưa ra hàm xác suất trong phúc lợi xã hội (hay hàm phúc lợi xã hội Bergson-Samuelson)[1].

Trong lý thuyết tài chính công, ông có đóng góp vào lý thuyết quyết định sự phân bổ tối ưu nguồn lực trong điều kiện tồn tại cả hàng hóa công cộng lẫn hàng hóa tư nhân.

Trong lĩnh vực kinh tế học quốc tế, ông góp phần xây dựng hai mô hình thương mại quốc tế quan trọng: Hiệu ứng Balassa-Samuelson, và Mô hình Heckscher-Ohlin (với định lý Stolper-Samuelson).

Trong lĩnh vực kinh tế học vĩ mô, ông sử dụng mô hình OLG như một cách để phân tích hành vi của các chủ thể kinh tế qua nhiều thời kỳ[2].

Trong lĩnh vực kinh tế học vi mô, ông là người tiên phong trong phát triển lý thuyết sở thích được bộc lộ.

Tham khảo [sửa]

  1. ^ Collected Scientific Papers, v. 2, ch. 77; Fischer, 1987, p. 236
  2. ^ Collected Scientific Papers, v. 1, ch. 21