Paul Scholes

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Paul Aaron Scholes
P Scholes.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Paul Scholes[1]
Ngày sinh 16 tháng 11, 1974 (39 tuổi)[1]
Nơi sinh Salford, Greater Manchester, Anh
Chiều cao 1,71 m (5 ft 7 in)[2]
Vị trí Tiền vệ trung tâm
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Manchester United
Số áo 18, 22 (đã giải nghệ)
CLB trẻ
1991–1994 Manchester United
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
1994–2013 Manchester United 718 (155)
Đội tuyển quốc gia
1997–2004 Đội tuyển Anh 66 (14)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc Ngày 01 tháng 6 năm 2011 (UTC).
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Paul Aaron Scholes (sinh ngày 16 tháng 11 năm 1974) là một cầu thủ bóng đá người Anh.Anh là một trong những cầu thủ trung thành, một trong những tiền vệ trung tâm xuất sắc và toàn diện bậc nhất bóng đá Anh đã sản sinh ra,đã dành toàn bộ sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp của mình với câu lạc bộ Manchester United.

Sinh ra ở Salford, nhưng sau đó chuyển đến Langley, Scholes xuất sắc trong cả hai môn cricketbóng đá ở trường. Anh được đào tạo lần đầu tiên bởi Manchester United lúc 14 tuổi sau khi được phát hiện tài năng bởi một trinh sát tại trường học của mình. Paul có trận ra mắt cho M.U trong mùa giải 1994-1995 và có 17 lần ra trận. Anh cũng là một thành viên trong đội hình giành cú ăn ba mùa giải 1998-99 của United.

Scholes đã thi đấu cho đội tuyển Anh từ năm 1997 đến 2004, tham gia World Cup 1998World Cup 2002, cũng như Euro 20002004. Scholes đã bị phạt hơn 120 thẻ vàng trong tất cả các giải đấu suốt sự nghiệp của mình và đã bị đuổi khỏi sân mười lần.[3][4][5][6] Scholes đã được huyền thoại của bóng đá Pháp Zinédine Zidane gọi là tiền vệ vĩ đại nhất "của thế hệ mình".[7]

Anh cũng đã trở thành 1 huyền thoại của MU với tư cách là cầu thủ khoác áo câu lạc bộ nhiều thứ 4 trong lịch sử, sau Ryan Giggs, Bobby Charlton và Bill Foulkes với 676 trận đấu. Ngày 31 tháng 5 năm 2011 Scholes đã tuyên bố giã từ sự nghiệp cầu thủ của mình, và tiếp tục gắn bó với câu lạc bộ trên cương vị là một thành viên trong ban huấn luyện. Tuy nhiên ngày 8 tháng 1 năm 2012 anh bất ngờ tuyên bố quay lại sân cỏ để giúp MU vượt qua khó khăn và anh ra sân từ băng ghế dự bị trong trận derby thành Manchester.[8][9]

Trận đấu cuối cùng (MU 2-1 Swansea) trên cương vị Huấn luyện viên của Sir Alex Ferguson cũng là trận đấu cuối cùng của Paul Scholes, anh đã tuyên bố từ giã MU sau thời gian cố gắng và thành công giúp MU đoạt chức vô địch Premier League mùa bóng 2012-2013

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Scholes được sinh ra tại bênh viện Hope ở Salford, Greater Manchester bởi cha mẹ anh Stewart và Marina Scholes. Khi mới được 18 tháng tuổi, cả gia đình anh chuyển đến vùng Langley thuộc Middleton, Greater Manchester và sống tại đường Bowness, sau đó là Talkin Drive.[10] Anh vào học ở trường tiểu học St Mary's RC và thi đấu cho câu lạc bộ Langley Furrows mặc dù là 1 cổ động viên của Oldham Athletic. Scholes cũng xuất sắc trong môn cricket. Ở tuổi 14, Anh bắt đầu luyện tập với Manchester United[11] và trở thành học viên của câu lạc bộ sau khi rời trường trung học Hồng y Công giáo La Mã Langley ở Middleton vào mùa hè năm 1991.[10] Trong năm cuối cùng ở trường, anh được chọn vào thi đấu cho đội tuyển bóng đá thiếu niên các trường học của toàn Vương quốc Anh.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Scholes không có mặt trong đội hình Manchester United giành cúp FA trẻ 1992 trong đó bao gồm những đồng đội tương lai như David Beckham, Nicky Butt, Gary NevilleRyan Giggs, nhưng anh cùng với Phil Neville là thành viên của đội trẻ đã vào đến trận chung kết ở mùa giải sau đó.[12] Scholes trở thành cầu thủ chuyên nghiệp vào ngày 23 tháng 7 năm 1993 và được trao áo đấu số 24, nhưng anh không tạo được dấu ấn nào trong đội hình chính cho đến mùa giải 1994–95, khi anh có 17 lần ra sân và ghi được 5 bàn thắng.

Trận đấu đầu tiên của anh diễn ra vào ngày 21 tháng 9 năm 1994, khi anh lập cú đúp trong chiến thắng 2–1 trước Port Vale tại cúp liên đoàn. 3 ngày sau đó anh có trận đấu đầu tiên tại giải ngoại hạng gặp Ipswich Town trên sân Portman Road, Trận đấu kết thúc với tỉ số 3–2 nghiêng về Ipswich Town và Scholes đã ghi được 1 bàn thắng an ủi. Anh tiếp tục ghi thêm 2 bàn nữa vào ngày 10 tháng 12 khi United đánh bại QPR 3–2 trên sân Loftus Road. Ngày 3 tháng 1 năm 1995, Anh đã có bàn thắng đầu tiên trên sân Old Trafford khi là người mở tỉ số trong chiến thắng 2–0 trước Coventry City. Anh ghi thêm được 1 bàn nữa ở mùa giải đó, trong trận thắng 3–2 trên sân khách trước Coventry City ngày 1 tháng 5.[13]

Scholes vào sân thay người trong trận chung kết cúp FA 1995 gặp Everton, trận đấu mà United đã thua với tỉ số 1–0. Anh đã có 2 lần suýt lập công ở gần cuối trận đấu, nhưng đã bị cầu thủ Neville Southall chặn đứng cả 2 lần.

Ở mùa giải 1995–96, sau khi Mark Hughes chuyển đến Chelsea, Scholes đã có nhiều cơ hội thi đấu ở đội hình chính hơn. Trong 2 tháng đầu của mùa giải, anh trở thành đối tác trên hàng công với Andrew Cole sau khi Eric Cantona bị treo giò. Scholes (khi đó đang mặc áo đấu số 22) đã ghi 14 bàn ở tất cả các giải đấu và United trở thành đội bóng Anh đầu tiên 2 lần giành cú đúp.[14] Ở mùa giải 1996–97, anh giành tiếp chức vô địch Premier League khác (thay số áo một lần nữa, lần này là số 18, số áo mà anh giữ cho đến khi giải nghệ), nhưng chỉ ghi được 3 bàn thắng trong 16 trận.

Scholes chuyển sang vị trí tiền vệtiền đạo tấn công ở mùa giải 1997–98 sau khi Roy Keane bị chấn thương đầu gối vào cuối tháng 9 và không thể tiếp tục thi đấu. United kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 2 sau Arsenal.[15]

Ở mùa giải 1998–99, Scholes là cầu thủ quan trọng trong đội hình giành cú ăn 3 (Premier League, FA Cup, và UEFA Champions League) của Manchester United. Anh đã ghi 1 trong 2 bàn thắng của Manchester United ở trận chung kết cúp FA gặp Newcastle. Anh cũng ghi 1 bàn vào lưới Inter Milan trong trận tứ kết UEFA Champions League 1998–99. Anh vào sân thay Nicky Butt trong trận bán kết lượt về gặp câu lạc bộ Juventus[16]. Anh bị nhận 1 thẻ vàng trong trận đấu khiến anh không thể tham dự trận chung kết gặp Bayern Munich do bị treo giò.[17]

Mùa giải 2001-02, Manchester United hoàn tất hợp đồng chuyển nhượng với cầu thủ người Argentina Juan Sebastián Verón.[18] Để hỗ trợ cho Scholes và Veron, huấn luyện viên Ferguson vẫn kiên trì với sơ đồ 4-4-1-1, trong đó Scholes chơi ở vị trí tiền đạo lùi (hộ công) phía sau Ruud van Nistelrooy còn Roy Keane và Veron chơi ở vị trí tiền vệ trung tâm.[19] Trong các trận trên sân khách ở châu Âu, Scholes thường thi đấu ở vị trí tiền vệ trung tâm với Veron trong khi Keane đá ở vị trí trung vệ dập.[20] Tuy vậy, Scholes đã thất bại trong việc thích nghi với sơ đồ chiến thuật và phong độ của anh đã đi xuống.

Mùa giải 2002-03, Scholes đã ghi được 20 bàn thắng (số bàn thắng nhiều nhất anh ghi được trong 1 mùa trong suốt sự nghiệp của mình) ở tất cả các giải đấu, con số này giảm xuống còn 14 bàn trong năm tiếp theo, mặc dù anh đã ghi được 4 bàn thắng tại cúp FA so với tổng cộng 5 bàn trong 9 mùa giải đầu của anh. Anh đã giúp Manchester United lọt vào trận chung kết cúp FA 2005 nhưng câu lạc bộ đã để thua Arsenal trong loạt luân lưu do cú sút phạt của anh bị Jens Lehmann cản phá. Scholes đã phải nghỉ thi đấu trong giai đoạn 2 mùa giải 2005-06 do mắc chứng suy giảm thị lực. Nguyên nhân của căn bệnh này ban đầu chưa chắc chắn, làm dấy lên mối lo ngại rằng nó có thể kết thúc sự nghiệp của anh. Tuy vậy anh đã vượt qua được vấn đề đó và góp mặt ở trận đấu cuối cùng của Manchester United trong mùa giải gặp Charlton Athletic. Được biết, thị lực của Scholes chưa hoàn toàn hồi phục.[21]

Paul Scholes

Ngày 22 tháng 10 năm 2006,Scholes ghi bàn trong chiến thắng 2–0 trước Liverpool, 12 năm sau khi có trận đấu đầu tiên cho quỷ đỏ, Scholes đã trở thành cầu thủ thứ 9 thi đấu 500 trận cho United, cùng với Sir Bobby Charlton, Bill Foulkes, và người đồng đội Ryan Giggs.[22]

Scholes bị đuổi ra khỏi sân trong trận Manchester United thắng Liverpool F.C. 1-0 ngày 3 tháng 3 năm 2007. Đây là lần bị đuổi khỏi sân đầu tiên của anh kể từ tháng 4 năm 2005.[23] 1 tháng sau đó, anh lại bị đuổi ra trong trận tứ kết lượt đi Champions League gặp A.S. Roma.

Scholes và Owen Hargreaves sau khi Manchester United đánh bại Manchester City vào ngày 10 tháng 2,2008

Scholes dính chấn thương dây chằng đầu gối trong buổi tập trước trận đấu bảng F Champions League với Dynamo Kiev vào ngày 23 tháng 10 năm 2007, và phải nghỉ thi đấu đến cuối tháng 1 năm 2008. Anh quay trở lại và vào thay người trong trận thắng 3–1 trước Tottenham Hotspur tại vòng 4 Cúp FA. Ngày 23 tháng 4 năm 2008, Scholes đã có trận đấu thứ 100 tại Champions League trong trận bán kết hòa 0–0 trước FC Barcelona, và ghi bàn thắng duy nhất trong chiến thắng 1–0 ở trận lượt về giúp United lọt vào trận chung kết.[24] Trong trận chung kết gặp Chelsea, anh bị dính chấn thương và nhận 1 thẻ vàng sau khi có va chạm với Claude Makélélé, anh quay trở lại cho đến khi được thay ra bởi Giggs ở phút 87 và không tham gia vào loạt sút luân lưu mà United đã thắng 6–5 sau khi cả 2 đội hòa 1–1 trong hiệp phụ.[25]

Scholes được đưa vào Ngôi đền của những huyền thoại bóng đá Anh tháng 9 năm 2008.[26][27] Vào tháng 12 năm 2008 trong cuộc phỏng vấn với báo Daily Mirror, Scholes cho biết anh đã lên kế hoạch giã từ hoàn toàn khỏi sân cỏ trong 2 năm.[28]

Ngày 24 tháng 1 năm 2009, Scholes ghi bàn thắng đầu tiên của mình trong mùa giải trận gặp Tottenham Hotspur tại Cúp FA. Trận đấu kết thúc với tỉ số 2–1 nghiêng về United.[29] Ngày 18 tháng 2,sau hơn 1 năm không ghi bàn nào tại giải ngoại hạng Anh Scholes đã lập công trong chiến thắng 3–0 trước Fulham, 1 cú volley đạp vào người Mark Schwarzer và lăn vào lưới.[30] Ngày 22 tháng 4, anh có trận đấu thứ 600 cho Manchester United trong chiến thắng 2–0 vượt qua Portsmouth.[31]

Ngày 15 tháng 9 năm 2009, Scholes có bàn thắng đầu tiên tại Champions League kể từ khi ghi bàn vào lưới Barcelona trong trận bán kết một năm rưỡi trước đó. Anh tự mình ghi bàn thắng ở phút 77 trong trận gặp Beşiktaş trên sân khách, Giúp Manchester United có chiến thắng khởi đầu chiến dịch châu Âu 2009–10.[32] Ngày 3 tháng 11 năm 2009, Scholes lần thứ 2 lập công tại Champions League với 1 pha đánh đầu thành bàn trong trận hòa 3–3 với CSKA Moscow.[33] Ngày 5 tháng 12 năm 2009, Scholes ghi bàn mở tỉ số trong chiến thắng 4-0 trên sân khách gặp West Ham, đây cũng là bàn thắng thứ 99 của anh ở Premier League.[34]

Ngày 27 tháng 1 năm 2010, Scholes có bàn thắng đầu tiên trong năm mới và cũng là bàn thắng đầu tiên ở cúp liên đoàn sau 7 năm trong chiến thắng 3–1 trận derby Manchester.[35] Ngày 16 tháng 2 năm 2010, Scholes lần thứ 3 trong mùa giải lập công tại Champions League trong chiến thắng 3-2 trước Milan; đây cũng là bàn thắng đầu tiên trên sân khách trước Milan từ trước đến giờ của United. Qua đó giúp United lần đầu vượt qua Milan trên sân khách. Scholes cũng là cầu thủ đầu tiên ghi bàn vào lưới cả Inter Milan và AC Milan trên sân San Siro tại Champions League.[36] Ngày 6 tháng 3, 2010,với pha lập công duy nhất trong trận thắng Wolves 1-0 trên sân Molineux, Scholes trở thành cầu thủ thứ 19 trong lịch sử Premier League ghi được 100 bàn thắng và cũng là cầu thủ thứ 3 của United sau Ryan GiggsWayne Rooney làm được việc này ở mùa giải 2009-10.[37] Ngày 16 tháng 4 năm 2010, Scholes đã kí bản hợp đồng có thời hạn 1 năm với United, giữ anh ở lại câu lạc bộ tới cuối mùa giải 2010–11.[38] Ngày 17 tháng 4 năm 2010, Scholes ghi bàn ở những phút cuối trận gặp Man City, Qua đấy giúp United giành thắng lợi 1–0 và cũng là cách hoàn hảo nhất để mừng hợp đồng mới của anh vài ngày trước đó. Đây cũng là bàn thắng thứ 2 của anh trong 2 trận gần nhất gặp kình địch cùng thành phố.[39]

Scholes khởi đầu mùa giải 2010–11 một cách mạnh mẽ, trong trận tranh siêu cúp Anh 2010 gặp Chelsea vào ngày 8 tháng 8,anh được bình chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trận[40] và 8 ngày sau đó trong trận đấu mở màn mùa giải mới gặp Newcastle United,anh đã có 2 lần kiến tạo để đồng đội ghi bàn và MU giành chiến thắng 3–0.[41] Ngày 22 tháng 8, Scholes có bàn thắng thứ 150 cho Manchester United khi anh mở tỉ số trong trận hòa 2–2 trước Fulham.[42] Khởi đầu mùa giải chói sáng của Scholesđã được ghi nhận với việc anh được trao danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất tháng 8.[43] tháng 4 năm 2011, Scholes nhận thẻ đỏ trong trận bán kết cúp FA gặp Manchester City; Manchester United thua cuộc với kết quả 1–0.[44]

Ngày 31 tháng 5 năm 2011 Anh tuyên bố giã từ sự nghiệp cầu thủ và sẽ gia nhập vào ban huấn luyện của Manchester United.[45] Ngày 8 tháng 1 năm 2012 anh bất ngờ quay trở lại sân cỏ từ băng ghế dự bị trong trận derby thành Manchester.

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Scholes có trận đấu quốc tế đầu tiên gặp Nam Phi năm 1997 trong trận giao hữu thắng 2–1 trên sân Old Trafford, và được gọi vào đội tuyển Anh tham dự World Cup 1998. Tại giải này, ĐT Anh nằm cùng bảng với Colombia, TunisiaRomania. Trong trận đấu vòng bảng World Cup gặp Tunisia, Scholes đã ấn định chiến thắng 2–0 với 1 pha lập công vào cuối trận đấu. Nhận đường chuyền từ Paul Ince, Scholes đẩy bóng nhẹ sang phía bên phải và tung cú sút với chân phải của anh, bóng đi xoáy vào góc cao khung thành phía bên tay phải của thủ môn Tunisia,Chokri El Ouaer.

Sự nghiệp quốc tế của anh vẫn tiếp tục sau khi ĐT Anh bị loại khỏi World Cup bởi Argentina trên chấm phạt đền ở vòng knock-out thứ nhất. Ngày 27 tháng 3 năm 1999, Scholes lập hat-trick cho ĐT Anh trong trận gặp Ba Lan. Ngoài ra, Scholes đã ghi cả 2 bàn trong chiến thắng 2–0 của ĐT Anh trên sân Hampden Park trước Scotland trong trận lượt đi play-off Euro 2000, ấn định tổng tỉ số 2–1 và giành quyền vào vòng chung kết. Trong trận đấu vòng loại gặp Thụy Điển vào tháng 6, Scholes trở thành cầu thủ Anh đầu tiên và cuối cùng bị đuổi khỏi sân trong 1 trận đấu quốc tế trên sân vận động Wembley cũ.[11]

Bước sang thế kỉ XXI, Scholes trở thành 1 cầu thủ nổi bật trong hàng tiền vệ của ĐT Anh, là sự lựa chọn hàng đầu cho World Cup 2002. Mặc dù vậy, sau giải đấu, Scholes nhận thấy cơ hội của anh ở đội tuyển đã giảm xuống do huấn luyện viên Sven-Göran Eriksson thường sắp xếp anh chơi ở vị trí tiền vệ cánh trái để hỗ trợ cho bộ đôi Steven GerrardFrank Lampard ở trung tâm.[46] Scholes tuyên bố giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế vào tháng 8 năm 2004, viện dẫn rằng cuộc sống gia đình của anh và sự nghiệp với câu lạc bộ Manchester United quan trọng hơn.[47]

Tháng 7 năm 2006, sau sự ra đi của Eriksson, Scholes có đề cập đến chuyện có thể tiếp tục thi đấu cho đội tuyển quốc gia dưới sự huấn luyện của Steve McClaren, tuy nhiên điều đó đã không bao giờ xảy ra.[48] Vào tháng 5 năm 2010, huấn luyện viên Fabio Capello, người kế nhiệm McClaren, đã tiếp xúc với Scholes để thuyết phục anh trở lại đội tuyển trong cuộc đua đến World Cup 2010, nhưng anh từ chối và nói rằng muốn dành thời gian cho gia đình.[49] Vào ngày 7 tháng 6 năm 2010, Scholes tiết lộ rằng nếu Capello cho anh nhiều thời gian hơn và hỏi anh sớm hơn thì có lẽ anh đã nhận lấy cơ hội.[50] Ngày 27 tháng 7 năm 2010, Scholes bày tỏ sự hối tiếc vì đã không nhận lấy cơ hội thi đấu thêm một giải World Cup nữa, nói rằng rất có thể anh đã phạm sai lầm.[51]

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

nguồn.[52][53]
# Thời gian Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 4 tháng 6, 1997 Stade de la Beaujoire, Nantes, Pháp  Ý 2–0 2–0 Tournoi de France 1997
2. 10 tháng 9, 1997 Wembley, London, Anh  Moldova 1–0 4–0 Vòng loại World Cup 1998
3. 15 tháng 11, 1997 Wembley, London, Anh  Cameroon 2–0 2–0 Giao hữu quốc tế
4. 15 tháng 6, 1998 Stade Vélodrome, Marseille, Pháp  Tunisia 2–0 2–0 World Cup 1998
5. 27 tháng 3, 1999 Wembley, London, Anh  Ba Lan 1–0 3–1 Vòng loại Euro 2000
6. 2–0
7. 3–1
8. 13 tháng 11, 1999 Hampden Park, Glasgow, Scotland  Scotland 1–0 2–0 Vòng loại Euro 2000
9. 2–0
10. 12 tháng 6, 2000 Sân vận động Philips, Eindhoven, Hà Lan  Bồ Đào Nha 1–0 2–3 Euro 2000
11. 28 tháng 3, 2001 Sân vận động Qemal Stafa, Tirana, Albania  Albania 2–0 3–1 Vòng loại World Cup 2002
12. 25 tháng 5, 2001 Pride Park, Derby, Anh  México 1–0 4–0 Giao hữu quốc tế
13. 6 tháng 6, 2001 Sân vận động Olympic, Athens, Hy Lạp  Hy Lạp 1–0 2–0 Vòng loại World Cup 2002
14. 21 tháng 6, 2004 Estádio da Luz, Lisbon, Bồ Đào Nha  Croatia 1–1 4–2 Euro 2004

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp Cúp Liên đoàn châu Âu Khác[54] Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Manchester United 1994–95 17 5 3 0 3 2 2 0 0 0 25 7
1995–96 26 10 2 1 1 2 2 1 0 0 31 14
1996–97 24 3 2 2 2 1 4 0 1 0 33 6
1997–98 31 8 2 0 1 0 7 2 1 0 42 10
1998–99 31 6 6 1 1 0 12 4 1 0 51 11
1999–00 31 9 0 0 11 3 3 0 45 12
2000–01 32 6 0 0 0 0 12 6 1 0 45 12
2001–02 35 8 2 0 0 0 13 1 1 0 51 9
2002–03 33 14 3 1 6 3 10 2 0 0 52 20
2003–04 28 9 6 4 0 0 5 1 1 0 40 14
2004–05 33 9 6 3 2 0 7 0 1 0 49 12
2005–06 20 2 0 0 0 0 7 1 0 0 27 3
2006–07 30 6 4 0 0 0 11 1 0 0 45 7
2007–08 24 1 3 0 0 0 7 1 0 0 34 2
2008–09 21 2 2 1 3 0 6 0 3 0 35 3
2009–10 28 3 0 0 2 1 7 3 1 0 38 7
2010–11 22 1 3 0 0 0 6 0 1 0 32 1
Tổng cộng 466 102 44 13 21 9 129 26 15 0 675 150

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 22 tháng 5 năm 2011[55]

Đội tuyển Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển bóng đá Anh
Năm Trận Bàn
1997 5 3
1998 9 1
1999 6 5
2000 10 1
2001 10 3
2002 11 0
2003 8 0
2004 7 1
Tổng cộng 66 14

[52][56]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Manchester United

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

U-18 Anh
  • Giải vô địch bóng đá U-18 châu âu: 1993

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của Premier League (3): 1/2003, 12/2003, 10/2006
  • Đội hình xuất sắc nhất năm của PFA (3): 2000–01, 2002–03, 2006–07
  • Đội hình tiêu biểu kỷ niệm 10 năm ra đời Premier League(1992–93 tới 2001–02)
  • Đội hình tiêu biểu Premier League đầu thế kỷ 21
  • Ngôi đền của những huyền thoại bóng đá Anh (English Football Hall of Fame): 2008

Kỉ luật[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt sự nghiệp của mình, Scholes đã nhận 90 thẻ vàng và 4 thẻ đỏ tại Premier League, khiến anh trở thành cầu thủ nhận thẻ phạt nhiều thứ 3 trong lịch sử Premier League[3][5] Tại Champions League anh đã 32 lần bị phạt thẻ, nhiều hơn bất cứ cầu thủ nào khác tại giải.[4][5]. Huấn luyện viên Arsene Wenger, khi nói về Scholes, đã cho biết: "đối với tôi anh ấy không phải là một cầu thủ chơi sạch. Có một chút mặt tối ở trong con người anh ấy, mà đôi khi tôi không thích. Tôi rất tôn trọng anh ấy như là một cầu thủ chất lượng nhưng tôi không thích một vài điều anh ấy đã làm trên sân bóng".[57]

Phong cách thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Zidane từng nhận xét "Đối thủ khó chơi nhất của tôi? Scholes. Không nghi ngờ gì việc Scholes chính là tiền vệ xuất sắc nhất ở thế hệ của anh ấy ", trong khi Thierry Henry đã nói"Paul Scholes có thể làm mọi thứ. Anh ấy là tiền vệ trung tâm xuất sắc nhất Premier League."[58] Khi được hỏi về Paul Scholes, người hùng Manchester United và ĐT Anh Bobby Charlton đã khen ngợi anh, "Paul luôn có được cách điều phối bóng hợp lí và tung ra những đường chuyền chính xác, thật tuyệt khi theo dõi cậu ấy thi đấu."[59] trong khi Marcello Lippi nhận xét rằng Scholes là "một tiền vệ toàn diện người sở hữu phẩm chất và cá tính phong phú."[60] Bình luận viên bóng đá BBC và là cựu hậu vệ Liverpool Alan Hansen đã mô tả Scholes như là "một trong 3 đến 5 cầu thủ hàng đầu từng chơi ở Premier League" và nhận xét "những quả chuyền bóng, di chuyển và kĩ thuật của anh trở thành hình mẫu cho tất cả mọi người."[61] Đồng đội của anh ở Manchester United Nani đã ca ngợi Scholes, nêu rõ "Anh ấy là tiền vệ hay nhất mà tôi từng thấy. Anh ấy có thể chuyền, ghi bàn với chân trái, chân phải, đầu của mình – anh ấy có thể làm bất cứ điều gì."[62] Wayne Rooney đã nhiều lần nói Scholes là cầu thủ xuất sắc nhất mà anh từng thi đấu cùng.

Tháng 2 năm 2011, Tiền vệ Barcelona Xavi, cũng đánh giá Scholes là cầu thủ tốt nhất ở vị trí của anh trong 2 thập kỉ qua. Anh nói: "Đó là một hình mẫu. Đối với tôi, tôi thực lòng nói rằng anh ấy là tiền vệ trung tâm hay nhất mà tôi từng thấy trong 15, 20 năm trở lại đây. Anh ấy thật đặc sắc, anh sở hữu mọi thứ, từ đường chuyền ghi bàn, rồi đích thân ghi bàn, anh ấy mạnh mẽ, không bao giờ để mất bóng, mất tầm nhìn. Nếu anh là người Tây Ban Nha, anh ấy sẽ còn được đánh giá cao hơn nữa. Mọi cầu thủ đều yêu mến anh."[63]

Scholes có những đường chuyền dài có độ chính xác cao và những cú sút uy lực rất căng từ xa làm tung lưới đối thủ.

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Scholes bị mắc bệnh hen và hội chứng viêm xương chày, một căn bệnh đầu gối có ảnh hưởng đến vận động viên trẻ.[64] Anh kết hôn với người yêu thời thơ ấu của mình,[11][65] Claire (nhũ danh Froggatt),[66] tại Wrexham vào tháng 2 năm 1999,[67] và họ có 3 đứa con, Arron, Alicia và Aiden.[68][69][70] Gia đình anh sống tại Saddleworth.[71]

Tính cách của Scholes ở ngoài sân cỏ đã được mô tả là "nhút nhát" [72] và lối sống của anh được xem là trái ngược hoàn toàn với lối sống của các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp điển hình.[73] trong một lần phỏng vấn hiếm hoi trước Euro 2004, Scholes đã mô tả một ngày lý tưởng của anh như sau: "Tập luyện vào sáng sớm, đón con từ trường, chơi đùa với chúng, uống trà, đưa lũ trẻ đi ngủ và sau đó xem TV một chút."[71]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Hugman, Barry J. (2005). The PFA Premier & Football League Players' Records 1946–2005. Queen Anne Press. tr. 548. ISBN 1852916656. 
  2. ^ “Paul Scholes Profile”. ManUtd.com. Manchester United. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2012. 
  3. ^ a ă http://www.premierleague.com/page/PlayerProfile/0,,12306~5894,00.html
  4. ^ a ă http://www.statbunker.com/football/ktg/index.php?PL=ktgalltime&Code=UCL&statType=bookings
  5. ^ a ă â http://soccernet.espn.go.com/columns/story/_/id/899461/ask-norman:-?cc=5739
  6. ^ http://www.dailymail.co.uk/sport/football/article-1377910/Graham-Poll-Paul-Scholes-pass-tackle-less.html
  7. ^ http://www.newsoftheworld.co.uk/sport/741321/EVEN-more-than-Glenn-Hoddle-Paul-Scholes-is-the-best-player-England-never-really-had.html
  8. ^ “Scholes retires - but stays at United”. Communications Dept. (Manchester United Official Website). 31 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2011. 
  9. ^ “Tin chính thức: Paul Scholes giải nghệ và theo nghiệp hlv”. 31 tháng 5 năm 2011. Truy cập 01 tháng 6 năm 2011. 
  10. ^ a ă http://www.bbc.co.uk/manchester/content/articles/2007/04/02/020407_langley_scholes_feature.shtml
  11. ^ a ă â Jackson, Jamie (18 tháng 5 năm 2008). “Simply the best”. London: The Observer. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2008. 
  12. ^ Oliver, Pete (12 tháng 6 năm 2003). “Old Trafford band of brothers prepare for split”. The Scotsman. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2008. 
  13. ^ [1]
  14. ^ Maxwell, Ian (17 tháng 12 năm 2008). “Spccoer Milestones”. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2009. 
  15. ^ “Club Trophy Room”. ManUtd.com. Manchester United. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2009. 
  16. ^ “United's glorious comeback”. BBC News. 21 tháng 4 năm 1999. 
  17. ^ Hodges, Vicki (21 tháng 5 năm 2008). “Champions League final: Paul Scholes deserves European Cup success, says David Beckham”. London: The Daily Telegraph. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2008. 
  18. ^ “Veron seals £28.1m Man Utd move”. BBC News. 12 tháng 7 năm 2001. 
  19. ^ “Scholes caught in two minds”. BBC News. 7 tháng 11 năm 2001. 
  20. ^ Winter, Henry (22 tháng 10 năm 2001). “United aim for right balance”. The Daily Telegraph (London). 
  21. ^ Bartram, Steve (1 tháng 11 năm 2006). “Scholes still troubled by vision problems”. Manchester United. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2008. 
  22. ^ Cheese, Caroline (22 tháng 10 năm 2006). “Man Utd 2–0 Liverpool”. Manchester United. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2006.  Đã bỏ qua văn bản “Scholes 500th appearance” (trợ giúp)
  23. ^ O'Shea stuns Anfield. ESPNsoccernet (3 March 2007). Retrieved on 19 December 2008.
  24. ^ McNulty, Phil (18 tháng 9 năm 2008). “Man Utd 1–0 Barcelona (agg 1–0)”. BBC Sport. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2009. 
  25. ^ McNulty, Phil (18 tháng 9 năm 2008). “Man Utd earn dramatic Euro glory”. BBC Sport. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2009. 
  26. ^ Galvin, Robert (18 tháng 9 năm 2008). “Paul Scholes Hall of Fame Profile”. Football Hall of Fame. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2008. 
  27. ^ Austin, Simon (20 tháng 5 năm 2008). “Why Scholes is Man Utd's talisman”. BBC Sport. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008. 
  28. ^ McDonnell, David (24 tháng 7 năm 2008). “Paul Scholes reveals he plans to retire from Manchester United in two years”. The Daily Mirror. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2008. 
  29. ^ Hughes, Ian (24 tháng 1 năm 2009). “Man Utd 2–1 Tottenham”. BBC Sport. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2009. 
  30. ^ Sanghera, Mandeep (18 tháng 2 năm 2009). “Man Utd 3–0 Fulham”. BBC Sport. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2009. 
  31. ^ McNulty, Phil (22 tháng 4 năm 2009). “Man Utd 2–0 Portsmouth”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2009. 
  32. ^ Sanghera, Mandeep (15 tháng 9 năm 2009). “Besiktas 0–1 Man Utd”. BBC Sport (BBC Sport). Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2009. 
  33. ^ McNulty, Phil (3 tháng 11 năm 2009). “Man Utd 3–3 CSKA Moscow”. BBC Sport (BBC Sport). Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009. 
  34. ^ Ashenden, Mark (5 tháng 12 năm 2009). “West Ham 0–4 Man Utd”. BBC Sport (BBC Sport). Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2009. 
  35. ^ McNulty, Phil (27 tháng 1 năm 2010). “Man Utd 3–1 Man City”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2010. 
  36. ^ Lyon, Sam (16 tháng 2 năm 2010). “AC Milan 2–3 Man Utd”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2010. 
  37. ^ Lyon, Sam (6 tháng 3 năm 2010). “Wolves 0–1 Man Utd”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2010. 
  38. ^ “Paul Scholes signs new one-year contract with Man Utd”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 16 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2010. 
  39. ^ McNulty, Phil (17 tháng 4 năm 2010). “Man City 0–1 Man Utd”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2010. 
  40. ^ “Man Utd boss Alex Ferguson praises Paul Scholes display”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 8 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2010. 
  41. ^ Chowdury, Saj (16 tháng 8 năm 2010). “Man Utd 3-0 Newcastle”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2010. 
  42. ^ Dawkes, Phil (22 tháng 8 năm 2010). “Fulham 2-2 Man Utd”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010. 
  43. ^ “Scholes is Barclays Player of the Month”. PremierLeague.com. Premier League. 10 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2010. 
  44. ^ McNulty, Phil (16 tháng 4 năm 2011). “Man City 1 - 0 Man Utd”. British Broadcasting Corporation. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2011.  Đã bỏ qua văn bản “work-BBC Sport ” (trợ giúp)
  45. ^ Man Utd midfielder Paul Scholes retires aged 36, BBC Sport, 31 May 2011
  46. ^ Dickinson, Matt (4 tháng 8 năm 2004). “Retirement of Scholes adds to England woe”. London: Times Online. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2009. 
  47. ^ Dickinson, Matt (3 tháng 8 năm 2004). “Scholes quits England”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2009. 
  48. ^ Bernstein, Joe (23 tháng 7 năm 2006). “Scholes's England U-turn”. Daily Mail (London: Mail Online). Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2009. 
  49. ^ “Fabio Capello makes surprise England World Cup choices”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 11 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2010. 
  50. ^ “World Cup 2010: Timing wrong for Scholes England return”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 7 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2010. 
  51. ^ “Paul Scholes hints at England World Cup regret”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 27 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2010. 
  52. ^ a ă “Paul Scholes International Games”. The Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  53. ^ “Player Report Paul Scholes”. England Stats. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2011. 
  54. ^ bao gồm các giải đấu FA Community Shield, Siêu cúp châu Âu, Cúp bóng đá liên lục địa, FIFA Club World Cup
  55. ^ “Paul Scholes”. StretfordEnd.co.uk. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  56. ^ “Paul Scholes International”. National-Football-Teams.com. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  57. ^ Wilson, Jeremy (20 tháng 8 năm 2010). “Manchester United's Paul Scholes not a fair player, says Arsenal manager Arsene Wenger”. The Daily Telegraph (London). 
  58. ^ Wheeler, Chris. “Scholes has his moment in the spotlight – it's 600 up for the red-top talisman”. London: Daily Mail. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008. 
  59. ^ “Football Hall of Fame: Paul Scholes”. National Football Museum. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008. 
  60. ^ Austin, Simon (20 tháng 5 năm 2008). “Why Scholes is United's talisman”. BBC Sport. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008. 
  61. ^ “Alan Hansen's column”. BBC Sport. 17 tháng 8 năm 2010. 
  62. ^ Bostock, Adam (19 tháng 1 năm 2011). “Nani's praise for returning Paul”. ManUtd.com (Manchester United). Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2011. 
  63. ^ Jenson, Pete (11 tháng 2 năm 2011). “Xavi: Paul Scholes is the best midfield player of the last 20 years... He would have been valued more if he was Spanish”. DailyMail.co.uk (Mail Online). Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2011. 
  64. ^ “Athletes with asthma”. BBC Sport. 21 tháng 10 năm 2002. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008. 
  65. ^ Jackson, Jamie (18 tháng 5 năm 2008). “Simply the best”. The Observer. 
  66. ^ “Paul Scholes”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2010. 
  67. ^ “Search 1984 to 2006 – Birth, Marriage and Death indexes”. Findmypast.com. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2010. 
  68. ^ Rich, Tim (24 July 2008). Manchester United fans have two years to savour Paul Scholes. The Independent. Retrieved on 25 March 2009.
  69. ^ Northcroft, Jonathon (26 September 2004). New goals for Scholes. The Sunday Times. Retrieved on 25 March 2009.
  70. ^ Boshoff, Alison (21 tháng 5 năm 2008). “The War of the WAGSKIS: The real battle for Moscow”. London: The Daily Mail. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2008. 
  71. ^ a ă Tongue, Steve (23 tháng 3 năm 2008). “Paul Scholes: 'I know there isn't much time left so I have to enjoy it'”. Independent.co.uk (London: The Independent). Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008. 
  72. ^ Jackson, Jamie (18 tháng 5 năm 2008). “Simply the best”. Guardian.co.uk (The Guardian). Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2010. 
  73. ^ Ornstein, David (20 tháng 8 năm 2010). “Paul Scholes still going strong at Manchester United”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]