Pavel Nedvěd

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Pavel Nedvěd
Pavel Nedvěd.jpg
Nedvěd chơi cho ĐTQG Cộng hòa Séc năm 2006
Thông tin cá nhân
Chiều cao 1,77 m (5 ft 9 12 in)
Vị trí Tiền vệ
CLB Chuyên nghiệp*
Năm CLB Trận (Bàn)
1991–1992 Dukla Prague 19 (3)
1992–1996 AC Sparta Praha 97 (23)
1996–2001 S.S. Lazio 138 (33)
2001–2009 Juventus F.C. 247 (51)
Tổng 501 (110)
Đội tuyển quốc gia
1992–1993 Czechoslovakia U21 7 (0)
1994–2006 ĐTQG Cộng hòa Séc 91 (18)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia
.
† Số trận khoác áo (Số bàn thắng).

Pavel Nedvěd}} (sinh ngày 30 tháng 8, 1972 tại Cheb, Cộng hòa Séc) là một cầu thủ bóng đá người Séc. Nedvěd là tiền vệ của đội bóng Ý Juventus và của Đội tuyển quốc gia Séc. Trước khi gia nhập Juventus, Nedvěd chơi cho Dukla Praha (1991-92), AC Sparta Praha (1992-96), và S.S. Lazio (1996-2001). Anh đã có được một scudetto (chức vô địch Ý) với Lazio và hai với Juventus (ngoài ra còn có 2 chức vô địch các năm 2005 và 2006 bị tước do câu lạc bộ dính vào scandal). Năm 2009, kết thúc mùa giải 2008-2009, Nedvěd tuyên bố giải nghệ.

Sự nghiệp CLB[sửa | sửa mã nguồn]

Nedved đã có 1 đột phá trong sự nghiệp quốc tế của mình khi anh là 1 trong những người có công dẫn dắt đội tuyển Quốc gia Séc đến với trận chung kết Euro 96, nơi mà họ đã thua Đức. Tuy nhiên có 1 khoảng thời gian anh bị quên lãng và anh đã được chuyển nhượng từ Sparta Prague sang chơi cho Lazio trong Serie A năm 1996.

Tại Lazio, Nedved đã giành được Coppa Italia mùa giải 1997/98 và vô địch cúp các đội đoạt cúp năm 1999 trước Real Mallorca, Và anh đã giành được chiến thắng 2-1 cho Lazio

Nedved đã được chuyển đến Juventus vào năm 2001 với phí chuyển nhượng lên đến 41 triệu Euro với nhiệm vụ là để thay thế cho Zinedine Zidane, người đã được chuyển cho CLB Tây ban nha Real Madrid cùng trong mùa hè đó. Anh đã chứng tỏ là 1 trong số ít các tiền vệ có khả năng thay thế cho cầu thủ người Pháp trước đó trong vai trò dẫn dắt lối chơi, Anh đưa Juventus lên đỉnh vinh quang tại Serie A trong 2 mùa liên tiếp khi nâng cao Scudetto trong các mùa giải 2001/02, 2002/03, 2004/05 và 2005/06.

Nedved cũng là ng đã dẫn dắt Juventuc đến với trận chung kết Champions League năm 2003 cùng với AC Milan nhưng không may là anh đã phải ngồi ghế dự bị vì phải nhận thẻ vàng thứ 2 sau khi cản phá tiền vệ Steve McManaman của Real Madrid ở trận trước đó. Cũng cuối năm đó anh đã nhận được giải thưởng Cầu thủ Châu âu xuất sắc nhất trong năm.

Tiếp sau mùa giải 2005/06, và Juventus đã từ Serie A bị hạ xuống giải Serie B vì dính líu đến vụ Calciopoli, và tưởng chừng như tương lai của Nedved ở Juventus là mong manh. Nhưng Nedved đã xui tan mọi tin đồn và ở lại với Juve với quyết tâm duy nhất là đưa Juve trở lại Serie A. Tuy nhiên, cũng trong mùa giải đó, mãn hợp đồng 1 năm, anh đã ý định giải nghệ khi hết mùa giải. Sau đó anh nhận 1 thẻ đỏ vào ngày 1 tháng 12 cùng năm. Nedved vẫn giữ ý định đó cho đến khi Juventus giành chiến thắng tại Serie B và chắc chắn sẽ được chuyển sang chơi ở Serie A. Suốt mùa giải 2007/08, Nedved đã gây bất ngờ cho các Bianconeri bởi tinh thần thi đấu đáng khâm phục của anh, và anh đã trở thành sự lựa chọn số 1 cho vị trí tiền vệ cánh trái của mình. Tuy nhiên anh đã không được niềm vui trọn vẹn khi đã xảy ra va chạm với Luis Figo của Inter Milan và làm cho cầu thủ người Bồ Đào Nha này bị gãy chân và phải phẫu thuật. Sau đó anh đã công khái xin lỗi.

Còn trong mùa giải Seire A 2007/08, Nedved đã gặp phải chấn thương và phải nghỉ trong 1 tháng. Anh đã có liên lạc với 1 câu lạc bộ Nhật bản là Jubilo Iwata khi vụ chuyển nhượng mùa hè 2008/09 bắt đầu. Nhưng những tin đồn nhanh chóng bị dập tan khi Pavel cam kết tương lai của anh tại Juve với bản hợp đồng 1 năm cho đến tháng 6 năm 2009. Và anh ấy đã có trận đấu đầu tiên tại mùa giài 2008/09 với tỷ số hòa 1-1 trước Fiorentina.

Kết thúc mùa giải 2008-2009, Nedved tuyên bố giải nghệ.

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp quốc tế của Pavel Nedved bắt đầu từ Euro 1996, nơi anh đóng vai trò người dự bị cho thủ lĩnh Karel Poborski. Euro 1996 cũng là một giải đấu đầy thăng hoa của đội tuyển cộng hoà Czech khi họ vào đến trận chung kết và chỉ để thua đội tuyển Đức sau khi Bierhoff ghi bàn thắng vàng. Tại vòng chung kết thế giới sau đó 2 năm, sự thiếu vắng Poborski tại 2 trận đấu đầu tiên đã một phần làm cho Czech không thể vượt qua vòng bảng. Ở cùng bảng đấu tử thần với Đan Mạch, Pháp, Hà Lan nhưng Czech đã thi đấu xuất sắc dưới sự dẫn dắt của Pavel Nedved. Cho dù thiếu may mắn để thua trước Pháp và Hà Lan nhưng đội tuyển Czech đã trở thành một trong số những đội bóng được yêu thích nhất. Giải đấu đó đã thực sự khiến Nedved thu hút sự chú ý của các ông lớn Châu Âu cho dù khi ấy anh đã là một ngôi sao ở sân Olimpico.

Nedved cũng chính là người dẫn dắt lối chơi của đội tuyển Czech tại Euro 2004. Năm đó, anh cùng với Tomas Rosicky, Thomas GalasekVladimir Smicer, những tiền vệ đầy sáng tạo đưa đội tuyển Czech vào đến bán kết và trở thành đội bóng có hàng tiền vệ linh hoạt và đáng sợ nhất tại Bồ Đào Nha. Cũng sau Euro 2004 anh đã quyết định từ giã sự nghiệp thi đấu đội tuyển quốc gia. Đó là tháng 9 năm 2004

Năm 2006: Anh đã tạm gác lại việc từ giã sân bóng anh đã quay lại đế giúp đội tuyển Cộng Hòa Czech tại vòng loại WC 2006 với chiến thắng Norway vào tháng 11 năm 2005. Và Séc đã chiến thắng cả 2 trận với tỷ số 1-0 trc Oslo và sau đó là Prague và Séc đã giành được chiếc vé để đến với vòng chung kết 2006. Mặc dù gây ấn tượng sâu sắc với chiến thắng 3-0 trước Mỹ, nhưng Séc đã thất bại trước vòng knock-out sau khi để thua trc Ghana và Ý. Anh ấy đã có 1 thời gian ngắn nghỉ ngơi trc trận đấu cuối cùng trong sự nghiệp quốc là chiến thắng 3-1 với Serbia vào tháng 8 năm 2006

Nedved từ chối để để trở lại Euro 2008, mặcdù lời mời gọi trở về đội tuyển quốc gia của huấn luyện Karel Brückner, đồng đội và người hâm mộ.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Với CLB

Sparta Prague

  • Czechoslovak League: 1992-93
  • Czech Gambrinus Liga: 1993-94, 1994-95
  • Czech Republic Football Cup: 1996

Lazio

  • Serie A: 1999-00
  • Coppa Italia: 1997-98, 1999-00
  • Supercoppa Italiana: 1998, 2000
  • UEFA Cup Winners' Cup: 1998-99
  • UEFA Super Cup: 1999

Juventus

  • Serie A: 2001-02, 2002-03
  • Supercoppa Italiana: 2002, 2003
  • Serie B: 2006-07

Danh hiệu cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ xuất sắc nhất Serie A của năm: 2003
  • Cầu thủ nước ngoài xuất sắc nhất Serie A của năm: 2003
  • Quả bóng vàng: 2003
  • Tiền vệ xuất sắc nhất Champions League: 2003
  • Sportske Novosti award: 2003
  • Cầu thủ Séc xuất sắc nhất thập kỉ: 2003
  • Cầu thủ Séc xuất sắc nhất năm: 1998, 2000, 2001, 2003, 2004
  • Chiếc giày vàng: 2004
  • FIFA 100
  • UEFA Team of the Year: 2003, 2004, 2005


Tiền nhiệm:
Flag of Brazil.svg Ronaldo
Quả bóng vàng châu Âu
2003
Kế nhiệm:
Flag of Ukraine.svg Andriy Shevchenko

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]