Phá

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đầm phá ven bờ (coastal lagoons) là một loại hình thủy vực ven bờ, nước lợ, mặn hoặc siêu mặn, thường có hình dáng kéo dài, được ngăn cách với biển bởi hệ thống đê cát và có cửa (inlet) thông nối với biển [1]. Đầm phá ven bờ (coastal lagoons) khác với các vụng biển (lagoon) nằm giữa các rạn san hô vòng ngoài biển xa.

Cửa đầm phá có thể một hoặc nhiều, mở thường xuyên hoặc định kỳ về mùa mưa lũ, thậm chí bị đóng kín nhưng vẫn trao đổi với biển phía ngoài nhờ thẩm thấu hay chảy thấm qua thân đê cát chắn. Đầm phá ven bờ có mặt ở nhiều nơi, chiếm khoảng 13% chiều dài đường bờ đại dương thế giới. Theo hình thái - động lực, đầm phá ven bờ được phân thành 4 kiểu - đầm phá dạng cửa sông (estuarine lagoon), dạng hở (open lagoon), dạng kín từng phần (partly closed lagoon) và dạng đóng kín (closed lagoon)[2]

Ở Việt nam, các đầm phá tập trung ở Miền Trung, nơi giàu nguồn bồi tích cát ven bờ, động lực sóng mạnh và thuỷ triều không lớn. Từ Thừa Thiên - Huế tới Ninh Thuận, có 12 đầm phá tiêu biểu với tổng diện tích khoảng 458km2, phân bố trên khoảng 21% chiều dài bờ biển Việt Nam. Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai ở Thừa Thiên-Huế dài 70km, rộng 216 km2 thuộc loại lớn nhất Đông Á và loại lớn trên thế giới [3]. Hầu hết các tên gọi đầm, phá ở Miền Trung ứng với thuật ngữ lagoon trong tiếng Anh, nhưng có trường hợp không phải. Ví dụ, đầm Nha Phu ở Khánh Hoà không phải là một lagoon, mà là một vịnh biển nhỏ (small bay) có đáy bị bồi cạn đáng kể [4].

Đầm phá ven bờ ven bờ Miền Trung Việt Nam là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao, là nơi lưu giữ nguồn giống sinh vật thủy sinh, đa dạng kiểu sinh cư, như vùng cửa sông, đầm lầy, thảm cỏ nước, bãi lầy có thực vật ngập mặn, đáy bùn lòng chảo, lạch triều, bãi triều cát, vùng triều đá, nên đa dạng sinh học cao. Đặc biệt, các cửa sông, đầm lầy và thảm cỏ nước trong đầm phá là nơi rất giàu dinh dưỡng, nguồn giống, nguồn lợi thuỷ sản và là nơi tập trung chim di trú tạo thành các sân chim lớn như ở cửa sông Ô Lâu trong phá Tam Giang trước đây.



  1. ^ Phleger F.B, 1981. A rewiew of some features of coastal lagoon. In: Coastal lagoon research, present and future. UNESCO Technical paper in marine science. No. 33. p.1- 6.
  2. ^ Nichols M., Allen G., 1981. Sedimentary process in coastal lagoons. In: Coastal lagoon research, present and future. UNESCO Technical paper in marine science. No.33. p.27-80.
  3. ^ Trần Đức Thạnh, Trần Đình Lân, Nguyễn Hữu Cử và Đinh Văn Huy, 2010. Tiến hoá và động lực hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Nxb. Khoa học Tự nhiên và Công nghệ. Hà Nội. 225 tr. https://www.researchgate.net/publication/258724154_Tin_ho_v_ng_lc_h_m_ph_Tam_Giang__Cu_Hai_%28Evolution_and_dynamics_of_Tam_Giang_-_Cau_Hai_lagoon%29
  4. ^ Trần Đức Thạnh, Nguyễn Hữu Cử, Đinh Văn Huy, Bùi Văn Vượng. 2007. Các thuỷ vực ven bờ biển Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển. 7(1): 64 – 79. https://www.researchgate.net/publication/258627850_Cc_thu_vc_ven_b_bin_Vit_Nam_-_Coastal_bodies_of_water_in_Vietnam