Phá

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gần phân nửa đảo Kiritimati là phá, trong đó có một phần nước ngọt và còn lại là nước biển

Phá là một bộ phận tương đối nông của nước biển hoặc nước lợ, chia cách với biển sâu hơn bởi một bãi cát, bờ đá san hô nông hoặc nhô ra biển hay hình thức tương tự. Khái niệm này được dùng để chỉ cả phá duyên hải - hình thành do sự bồi đấp các bãi cát hoặc các dãy đá dọc theo vùng nước nông duyên hải - và phá (thường gọi là vụng biển) được bao bọc bởi vành san hô của rạn san hô vòng. Phá nhận nguồn nước ngọt từ các dòng chảy được gọi là cửa sông.

Tại nhiều quốc gia nói tiếng Anh, phá duyên hải (coastal lagoon) đôi khi được gọi là eo biển, vịnh, sông hay hồ. Thí dụ eo biển Albemarle tại Bắc Carolina, vịnh Great South giữa Long Island và các bãi biển Fire Island tại New York, sông Banana tại Florida và hồ Illawarra tại New South Wales đều là các phá nước.

Hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, Thừa Thiên Huế, Việt Nam (ảnh chụp từ tàu hỏa)

Tại Việt Namphá Tam Giang thuộc hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai với độ sâu từ 2 m đến 4 m, có nơi sâu tới 7 m, mặt nước rộng mênh mông. Hàng năm sản lượng khai thác trên vùng đầm phá lên đến hàng nghìn tấn hải sản, , tôm các loại. Hiện nay có kế hoạch nghiên cứu đầu tư xây dựng cầu qua Phá Tam Giang để có điều kiện phát triển kinh tế và du lịch tại vùng này.