Pháo bức kích D-20 152 mm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Pháo bức kích D-20 152 mm
240-мм миномёт М-240 (2).jpg
Loại Lựu pháo dã chiến hạng nặng
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1950 - nay
Quốc gia sử dụng  Liên Xô,  Trung Quốc,  Việt Nam,  Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cùng nhiều quốc gia khác.
Sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam, Chiến tranh Sáu ngày, Chiến tranh Yom Kippur và nhiều cuộc chiến khác
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Phòng thiết kế số 9 (đứng đầu là ông Fedor Fëdorovich Petrov)
Năm thiết kế 1947
Nhà sản xuất Nhà máy pháo binh số 9, Yekaterinburg, Liên Xô
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 5.700 kg
Chiều dài 8,69 m
Chiều rộng 2,35 m
Chiều cao 1,93 m
Kíp chiến đấu 8

Cỡ đạn 152,4 mm
Góc ngẩng -5 ° đến 63 °
Quay ngang 58°
Tốc độ bắn 5-6 phát/phút
Sơ tốc 650 m/s
Tầm bắn hiệu quả 17,4 km
Tầm bắn xa nhất 24 km
Ngắm bắn Ống ngắm PG1M hay OP4M

Bích kích pháo D-20 152 mm (Tiếng Nga: 152-мм пушка гаубица Д-20 обр 1955 г) là loại pháo lựu hạng nặng do Liên Xô nghiên cứu năm 1947 và sản xuất năm 1950. Đây là loại pháo nạp đạn bằng tay, Phương Tây nhận được thông tin về nó năm 1955 nên gọi nó là pháo M-1955. Cục Tên lửa và Pháo binh thuộc Bộ quốc phòng Liên Xô (nay là Liên Bang Nga) (GRAU) đặt tên là 52-P-546. Biến thể nổi tiếng nhất của nó là Lựu pháo kiểu 66 do Trung Quốc sản xuất.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lựu pháo nòng dài D-20

D-20 là mẫu lựu pháo đầu tiên của Liên Xô có cỡ nòng vừa lớn cũng như tầm vừa bắn bắn xa của họ lúc bấy giờ. Lựu pháo cỡ lớn bắt đầu được nghĩ đến từ những khẩu pháo bức kích 152 mm của Quân đội Hoàng gia Anh mà Nga nhận từ thời thế chiến thứ nhất. D-20 là mẫu pháo bức kích được thiết kế để thay thế đại bác ML-20 của Liên Xô cũng có cỡ nòng 152 mm dùng từ thời thế chiến thứ hai nhưng nặng nề và có uy lực kém hơn. Liên Xô xếp đại bác D-20 vào nhóm "pháo trung bình" vì sơ tốc đạn của nó vượt quá 600 m/s.

D-20 được thiết kế vào khoảng thời gian cuối thập niên 1940 và xuất hiện lần đầu năm 1955. Dẫn đầu đoàn thiết kế là nhà thiết kế pháo binh nổi tiếng Fedor Fëdorovich Petrov (1902-1978), ông cũng là tác giả của 1 số loại pháo binh của Liên Xô thời thế chiến thứ hai. Được chỉ định sản xuất tại Nhà máy sản xuất pháo binh số 9 tại Sverdlovsk (sau này là tại Nhà máy Motovilikha ở Yekaterinburg). Phiên bản tự hành của D-20 là pháo tự hành 2S3 Akatsiya. Nó trở thành pháo 152mm chính yếu của Hồng quân Liên XôKhối Hiệp ước Warsaw, được biên chế thành pháo cấp chiến dịch và tăng cường cho các đơn vị bộ binh cấp trung đoàn, các lữ đoàn bộ binh tăng - thiết giáp hỗn hợp.

Đặc điểm và hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Pháo 152mm D-20 khá nặng nề và khó kéo theo trên trận địa, nhưng bù lại cho khuyết điểm đó là tầm bắn cuả nó có thể đạt tới 17,4 km. Pháo D-20 sử dụng chung 1 khung với loại pháo mặt đất nòng dài D-74, được tăng cường 2 bánh xe nhỏ sau chân giá đỡ để có thể di chuyển cơ động hơn và xoay ngang súng dễ dàng hơn. Súng cũng có 1 khiên bảo vệ cho tổ pháo. Nòng pháo ngắn hơn D-74, đường kính lớn hơn, cỡ nòng 152mm và có 1 đầu giảm giật (muzzle brake) 2 lỗ thoát khí thuốc liều phóng. Khi bắn, nòng pháo phóng ra lửa theo đạn như súng phun lửa do sơ tốc đạn nhanh và âm thanh rất đinh tai. Pháo D-20 cũng có hệ thống hãm giật 2 xi-lanh phía trên nòng pháo như D-74 và cả 2 loại pháo này đều sử dụng khoá nòng xoắn bắn tự động. Pháo được trang bị hệ thống ngắm khi bắn định hướng (bắn thẳng) cả ban ngày lẫn ban đêm cung cấp cho pháo khả năng chống xe tăng đáng kể.[1]

Pháo bắn đạn FRAG-HE, OF-540 với tốc độ bắn có thể đạt tới 5 - 6 phát 1 phút, 1 tiếng có thể bắn tới 65 phát. Pháo có thể kéo bằng xe bọc thép hay xe tải hạng nặng. D-20 được Trung Quốc chế tạo với cái tên Type 66 và viện trợ cho các nước khác.[1]

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Liên Bang Nga[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lựu pháo Khitin phiên bản nâng cấp của D-20 với tốc độ bắn nhanh hơn khoảng 7-8 phát/phút.

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lựu pháo kiểu 66 Phiên bản sao chép D-20 năm 1966
  • Pháo tự hành kiểu 83 Phiên bản sao chép 2S3 Akatsiya

România[sửa | sửa mã nguồn]

  • A411 Phiên bản đơn giản hóa của D-20. Trong Quân đội Romania nó có tên là Lựu pháo M1981 152 mm.
  • A412 Phiên bản sao chép có giấy phép từ khẩu Lựu pháo kiểu 59 của Trung Quốc nhưng dùng hệ thống kéo của D-20. Trong Quân đội Romania nó có tên là Lựu pháo M1982 130 mm.
  • A425 Phiên bản sao chép lựu pháo 2A65 152 mm. Hệ thống này được xuất khẩu với tên là Model 1984.

Nam Tư[sửa | sửa mã nguồn]

  • M84 NORA-AM96 NORA-B Phiên bản pháo tự hành sử dụng xe kéo NORA của Nam Tư.

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

  • M1974 152mm Phiên bản sao chép Lựu pháo kiểu 66 của Trung Quốc với cái tên "Tokchon".

Quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

D-20 đang bắn

Hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

  •  Albania - Lựu pháo kiểu 66
  •  Iraq Lựu pháo kiểu 66

Các quốc gia từng sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

  •  Liên Xô - Chuyển giao cho các quốc gia kế tục
  •  Nam Tư - M84 NORA-A, chuyển giao cho các quốc gia kế tục

Các cuộc chiến đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Các cuộc chiến mà D-20 đã tham gia bao gồm:

Thông số kỹ thuật cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

Lựu pháo D-20 của Iran đang bắn
  • Loại: Lựu pháo nòng dài hạng nặng (hay Pháo bức kích)
  • Nặng: 5,7 tấn
  • Dài nòng: 5.195 m
  • Cỡ nòng: 152mm
  • Tổ pháo: 8 người
  • Góc bắn: Từ-5° tới 63°
  • Tốc độ bắn: tối đa từ 5 tới 6 phát/ 1 phút
  • Sơ tốc đạn:650 m/s
  • Tầm bắn hiệu quả: 17,4 km
  • Tầm băn tối đa: 24 km [1]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]