Pháo tự hành chống tăng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hai chiếc PTHCT M10 của quân Mỹ tại Pháp

Pháo tự hành chống tăng (tạm viết tắt: PTHCT) (tiếng Anh: Tank Destroyer hay Tank Chaser[1]) là một loại Xe Tăng, được thiết kế riêng để chống lại các phương tiện cơ giới bọc thép của đối phương, đặc biệt là xe tăng khác. Giống các loại xe tăng, PTHCT gồm một khẩu pháo đặt trên một thân xe tăng và có hệ thống tháp pháo.

Ngày nay, PTHCT không còn dùng vũ khí là pháo nữa mà dùng tên lửa chống tăng ATGM.

Ưu và nhược - chiến thuật[sửa | sửa mã nguồn]

  • PTHCT có thể sản xuất với số lượng lớn bù đắp cho sự thiếu hụt xe tăng, tốc độ pháo tự hành cũng được cải thiện rõ rệt. Điều này còn giúp pháo tự hành có thể được chuyển vận dễ dàng hơn, nhất là bằng đường không. Ngoài ra nhờ đó mà các trang bị trên thân xe thường mạnh hơn như pháo lớn giúp hỏa lực mạnh hơn và tầm bắn xa hơn xe tăng. Dung tích thân xe cũng lớn hơn giúp chứa đạn nhiều và tổ lái ngồi thoải mái. Giáp trụ, trong một số trường hợp cũng có thể được gia cố tốt hơn, nhất là giáp trước.
  • PTHCT chủ yếu được dùng trong nhiệm vụ phòng thủ và mai phục, nó không thể nào đảm đương tất cả các vai trò tác chiến như xe tăng, nhất là trong tấn công. Việc nhắm bắn trở nên khó khăn với một pháo không xoay ngang tự do, và vì vậy PTHCT khó chống trả khi bị tấn công từ hông và phía sau. Cách bố trí không có tháp pháo làm tổ lái dễ bị tổn thương hơn khi pháo bị bắn trúng.

Thế nên PTHCT chủ yếu được dùng trong nhiệm vụ phòng thủ và mai phục, nó không thể nào đảm đương tất cả các vai trò tác chiến như xe tăng (nhất là trong tấn công), và nó lại càng không thể thay thế vị trí xe tăng trong chiến tranh hiện đại. So với xe tăng, PTHCT giáp mỏng hơn nhưng nhẹ hơn và nhanh hơn, vì vậy chúng có thể di chuyển nhanh tới vị trí mai phục trước xe tăng, sau một thời gian giao chiến chúng lại bỏ chạy và tới một vị trí mai phục mới[2]. Pháo tự hành chống tăng cũng được sử dụng nhiều hơn trong các trận chiến mật độ thấp, như các cuộc giao tranh trong thành phố. Hiện nay PTHCT xuất hiện dưới dạng các loại xe bọc thép hạng nhẹ trang bị pháo (có thể có tháp pháo) và tên lửa chống tăng. Chủ yếu PTCHT hiện đại sử dụng đạn nổ vì thân xe quá nhẹ không cho phép sử dụng các loại pháo bắn đạn xuyên có sơ tốc lớn.

Thế chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

Pháo tự hành chống tăng hiện đại lần đầu tiên xuất hiện trong thế chiến II.Chúng được phân vào các sư đoàn chống tăng, tầm xa và trở thành những binh chủng chính trong quân đội các nước.

Trong thời kì thế chiến, pháo tự hành chống tăng được chia làm hai loại:

  • Loại thứ nhất:có trọng lượng ngang bằng với các loại tăng hạng trung, được bọc giáp tương đối dày và có thể bắn từ khoảng cách xa.
  • Loại thứ hai:có trọng lượng ngang với các tăng hạng nặng, được bọc giáp rất dày và được thiết kế để có thể đối đầu trực diện.

Các mẫu PTHCT của Ba Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Hai loại pháo tự hành chống tăng đầu tiên của Ba Lan chính là mẫu TKS[1] với pháo chính có cỡ nòng 20 mm và một mẫu khác có cỡ nòng 37 mm.Chúng biểu diễn rất tệ trong cuộc xâm lược của Đức và sau đó bị huỷ bỏ hẳn.

Các mẫu PTHCT của Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Loại pháo tự hành chống tăng đầu tiên được Đức phát triển là Panzerjäger I ("sát thủ tăng"), được trang bị pháo chính-lắp trên khung tăng và được bọc giáp kĩ càng hai bên-mặt trước.Mẫu Panzerjäger được lắp ráp khung tăng Panzer I nhưng lược bỏ bớt phần trên, thay vào đó là một tháp pháo mới và pháo chính Skoda 47 mm.Tương tự như Panzerjäger, Marder II được thiết kế và lắp ráp dựa trên khung tăng Panzer II và trang bị một loại pháo có cỡ nòng 7.62 mm của Hồng Quân.Mẫu cuối cùng của dòng này chính là Panzer 38(t)[2], khung tăng Panzer 38(t) còn được dùng cho PTHCT Marder III và Jagdpanzer 38 'Hetzer'.Panzerjäger cải tiến lên đến dòng cuối cùng là Nashorn, với lớp giáp bọc rất dày và vũ khí mạnh.

Jagdpanther

Các phiên bản phát triển tiếp theo của dòng Panzerjager như Jagdpanzer, JagdpantherJagdtiger đều được trang bị các loại pháo có cỡ nòng từ 80 mm, bọc giáp nặng từ 100 mm-200 mm.Riêng Jagdpanther và Jagdtiger là hai loại PTHCT được lắp ráp dựa trên khung của hai loại tăng nổi tiếng khác đó là Tiger(tăng con cọp) và Panther(tăng con báo).Trong lịch sử thế chiến II, Jagdtiger là loại PTHCT được bọc giáp nặng nhất và có vũ khí được đánh giá là mạnh nhất.StuG-III là một trong những ví dụ điển hình về một loại pháo tự hành(tầm xa và chống tăng) hiện đại có thể đối đầu trực diện cũng như hỗ trợ bộ binh từ đằng xa.

Các mẫu PTHCT của Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

ISU-152

Giống như PTHCT Đức, các loại PTHCT của Liên Xô cũng được lắp trên khung tăng với tháp pháo chỉ có khả năng quay qua hai bên ở một điểm nhất định và có lớp khiên giáp phía trước.Tuy nhiên, các loại PTHCT của Liên Xô có sự khác biệt ở chỗ quá trình chế tạo nhanh hơn Đức, có trọng lượng nhẹ hơn nhưng có thể lắp được pháo chính nặng, có sức công phá cao.PTHCT SU-85(trang bị pháo có cỡ nòng 85 mm) và SU-100(trang bị pháo có cỡ nòng 100 mm) đều được lắp ráp trên khung tăng T-34.Giống như hai mẫu trên, ISU-122(trang bị pháo có cỡ nòng 122 mm) và ISU-152(trang bị pháo có cỡ nòng 152 mm) cũng được lắp ráp dựa trên khung tăng IS-2 nặng và có lớp giáp bọc dày hơn T-34.ISU-122 có biệt danh là "beast killer"-tạm dịch "kẻ giết quái thú" vì thành tích tiêu diệt được các loại tăng và pháo tự hành hạng nặng của Đức như Tiger-II, Panther và Elefant.ISU-152 được đánh giá là gần ngang bằng về cả sức chiến đấu, hỏa lực và lớp giáp bọc với Jagdtiger.Nòng pháo M-1937/43 của ISU-152 bắn ra loại đạn nặng có thể thổi tung giáp của bất cứ loại tăng nào của Đức.

Vào năm 1943, Liên Xô chế tạo thêm mẫu SU-76[3] dựa trên khung tăng T-70.Số SU-76 được dùng để hỗ trợ bộ binh và phá hủy các công trình quân sự.

Các mẫu PTHCT của Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

PTHCT M36 của Mỹ

Khác với mục đích chế tạo của ĐứcLiên Xô, Mỹ chế tạo PTHCT nhằm hỗ trợ và bảo vệ các loại tăng.Do lúc này, Đức áp dụng chiến thuật đánh nhanh thắng nhanh khiến cho lực lượng bộ binh và thiết giáp Mỹ không kịp trở tay, dễ bị tan tác nếu không biết cách phòng thủ.Lực lượng pháo tự hành Mỹ ra đời nhằm hỗ trợ cho lực lượng thiết giáp tấn công.Qua nhiều lần luyện tập, lực lượng pháo tự hành Mỹ với hơn 100.000 người và 80 tiểu đoàn(36 khẩu pháo/tiểu đoàn) lần đầu tham chiến tại mặt trận Thái Bình Dương.

PTHCT Mỹ được thiết kế để có thể hoạt động khá linh hoạt và được trang bị vũ khí hạng nặng.Giống như các loại PTHCT của Liên Xô và Đức, PTHCT của Mỹ đều có tháp pháo nhưng chỉ có thể quay đến một điểm nhất định.Tháp pháo được thiết kế hở để giảm bớt trọng lượng và lắp được pháo lớn[4].Một trong những mẫu PTHCT đầu tiên của Mỹ chính là M3 Half-track(trang bị pháo chính M1897 75 mm).Mẫu thứ hai là Dodge 3/4(được trang bị một khẩu pháo chống tăng 37 mm).Tiếp theo là các mẫu 3in Gun Motor Carriage M10 (Wolverine), 90mm Gun Motor Carriage M36 (Jackson) và 76mm Gun Motor Carriage M18 (Hellcat).Trong đó mẫu M18 là thành công nhất vì nó di chuyển rất nhanh và trang bị pháo chính có cỡ nòng 76 mm.

Các loại PTHCT của Mỹ nếu so ra với Đức và LX thì vẫn còn thua xa.Việc này dẫn đến thí nghiệm về mẫu PTHCT hạng nặng của Mỹ là T-28(trang bị pháo T5E1 có cỡ nòng gần 105 mm và có tầm bắn tối đa đến 20 km).Mỹ đã dùng T-28 để bẻ gãy phòng tuyến Siegfried của quân Đức.

Trong tất cả các mẫu PTHCT của Mỹ, chỉ có M18 và M36 là có thể đối đầu với các loại PTHCT hạng nặng khác của Đức.Nhưng vì thiết kế tháp pháo hở và lớp giáp bọc còn quá mỏng khiến cho hai loại PTHCT này vẫn bị các loại PTHCT khác của Đức phá hủy một cách dễ dàng.

PTHCT thời hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày nay, có rất nhiều phương tiện chiến đấu được sử dụng để chống tăng như trực thăng, máy bay phản lực...Tuy nhiên vẫn còn tồn tại các sư đoàn chống tăng sử dụng các loại xe tăng có tầm tác xạ cao cũng như các loại tên lửa đối đất.

Một tiểu đội NM142 của quân đội Na Uy

Các loại pháo chống tăng hiện đại đều sử dụng tên lửa chống tăng(ATGM), lắp ráp dựa trên khung tăng khác, đôi khi còn được lắp ráp dựa trên khung của một loại xe vận tải bọc thép(APC).Ví dụ điển hính nhất của loại này chính là M901 ITV(của quân đội Mỹ), NM142(của quân đội Na Uy)-cả hai loại đều được lắp ráp dựa trên khung xe thiết giáp M113.Một vài mẫu khác của Liên Xô được lắp ráp dựa trên khung xe do thám BRDM.Hai loại khác của Đức và Anh là FV438 Swingfire, FV102 Striker được lắp ráp trên khung xe chiến đấu HS 30;Marder.

Quân đội Mỹ kết hợp sư đoàn chống tăng với một sư đoàn thiết giáp khác nhằm có thể bảo vệ một cách tốt nhất các sư đoàn chống tăng sử dụng tên lửa đối đất tấn công từ đằng xa.

Một chiếc Centauro tại I-rắc

Quân đội ÝTây Ban Nha có chế tạo một số mẫu PTHCT di chuyển bằng bánh hơi, với pháo chính 105 mm, loại PTHCT có đặc điểm là di chuyển và phòng vệ rất tốt nhưng có nhược điểm là không thể tác xạ mục tiêu từ một khoảng cách xa.Một ví dụ điển hình về loại này chính là chiếc Centauro và hệ thống M1128.Các phiên bản sau được trang bị thêm thiết bị định hướng đầu đạn và có thể thay đạn tự động.Quân đội Canada có mua khoảng 114 chiếc Leopard I từ Đức và dự định thay thế số tăng này bằng hệ thống M1128 của quân đội Mỹ.Nhưng do lớp giáp của M1128 chỉ dày có 14.5 mm(dễ bị các loại bom đặt dưới đường đi phá hủy) nên quân đội Canada quyết định tiếp tục mua 100 chiếc Leopard II nữa từ Đức.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mẫu này là tankettes-xe tăng siêu nhẹ
  2. ^ chữ t ở đây ám chỉ trọng lượng của loại xe tăng này-38 t có nghĩa là 38 tấn
  3. ^ đây là một loại pháo tự hành
  4. ^ pháo lớn ám chỉ các loại pháo có cỡ nòng rộng và nặng
  • ^ Theo cách dịch của phần mềm từ điển Lạc Việt phiên bản mtd2002 Version 4.0 do Công ty Lạc Việt phát hành.
  • ^ Military Channel, Program "Tank Overhaul" 22:51, Wednesday 13 August 2008 (UTC) "18:00-19:00 hrs EDST", mixed documentary with interviews of WW-II veterans featuring overhaul of M18 Hellcat.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Harry Yeide, (2005) The Tank Killers: A History of America's World War II Tank Destroyer Force. Havertown, PA: Casemate. ISBN 1-932033-26-2
  2. Perret, Bryan (1987). Soviet Armour Since 1945. London: Blandford Press. ISBN 0-7137-1735-1.
  3. Gelbart, Marsh (1996). Tanks: Main battle and light tanks. London: Brassey's. ISBN 1-85753-168-X.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]