Phân thứ lớp Cá xương thật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phân thứ lớp Cá xương thật
Thời điểm hóa thạch: Đầu kỷ Tam điệp - ngày nay[1]
F de Castelnau-poissonsPl12.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Liên lớp (superclass) Osteichthyes
Lớp (class)

Actinopterygii

Nhánh Actinopteri
Phân lớp (subclass) Neopterygii
Phân thứ lớp (infraclass) Teleostei
Siêu bộ

Phân thứ lớp Cá xương thật (Teleostei) là một trong ba nhóm thuộc lớp Cá vây tia (Actinopterygii). Nhóm này hình thành từ đầu kỷ Tam điệp,[1] và bao hàm 20.000 -30.000 loài cá xếp trong khoảng 40 bộ, bằng với tất cả số loài của các nhóm động vật có xương sống khác cộng lại;[2][3] như vậy phần lớn các loài cá tồn tại hiện nay đều thuộc nhóm này.[4] Hai nhóm cá vây tia khác là phân thứ lớp Cá toàn xương (Holostei) và phân lớp Cá sụn hóa xương (Chondrostei) có thể là các nhóm cận ngành.[5]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Các loài Cá xương thật có hàm trênmảnh trước hàm chuyển động được và có cấu trúc thay đổi tương ứng với cấu trúc của hệ thống cơ hàm. Sự thay đổi này giúp cho chúng có thể đưa quai hàm ra phía trước miệng.[5][6] Vây đuôi của cá có dạng đồng hình, tức là cả thùy trên và thùy dưới đều cân xứng và kích thước, hình dạng giống nhau. Cột sống cá kết thúc tại phần gốc của vây đuôi, đặc điểm này giúp phân biệt phân thứ lớp Cá xương thật với các nhóm cá khác có cột sống kéo dài đến tận thùy trên của vây đuôi.[5]

Là một nhóm loài lớn, các loài Cá xương thật có đặc điểm hình thái rất đa dạng, từ loài cá tuế chỉ dài hơn 7mm cho đến loài cá maclin dài hơn 3,5 mét hay cá thái dương nặng đến hơn 900 kg. Sự đa dạng lớn này khiến việc định nghĩa nhóm Cá xương thật thông qua hình dáng và cấu trúc không phải là điều dễ dàng.[3]

Sinh thái và hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

Các loài Cá xương thật có mặt ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới, từ môi trường nước ngọt đến cả nước mặn, bao hàm các vùng nước triều, vùng duyên hải, thềm lục địa, biển khơi và vùng biển thẳm,[7] từ các vùng biển băng giá ở hai cực Trái Đất đến các suối nước ấm có nhiệt độ lên đến 38 độ bách phân. Tuy nhiên, mỗi loài Cá xương thật thường có xu hướng sống giới hạn trong một loại môi trường nào đó trong một giai đoạn sống nhất định, và các môi trường sống khác nhau thường có sự hiện diện của những loài cá có khác biệt lớn về vòng đời, sinh sản, hành vi, hình dáng.[3]

Quy mô lớn của phân thứ lớp Cá xương thật cũng dẫn đến sự đa dạng trong tập tính sinh sản. Phần lớn một lứa đẻ của chúng "sản xuất" ra rất nhiều trứng, phân tán ra khắp nơi nhưng chỉ có một số ít sống sót đến lúc trưởng thành. Trong đó cá nước ngọt thường đẻ trứng chìm xuống đáy nước, còn cá biển đẻ trứng trôi nổi trong nước. Một số khác ấp trứng trong miệng, một số canh chừng trứng và cá con suốt một thời gian dài sau khi đẻ. Một số loài cá là lưỡng tính, có khả năng tự thụ tinh, một số loài là cá đực trong một giai đoạn sống, nhưng trở thành cá cái trong giai đoạn khác. Ít nhất 12 loài có khả năng đẻ trứng thai, và nhiều loài khác có đặc tính sinh sản chưa được rõ ràng.[3]

Vai trò[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng phong phú của nhiều loài Cá xương thật kích thước lớn, tỉ như cá hồicá bơn lưỡi ngựa, giúp cho nhóm cá này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người với tư cách là một nguồn thực phẩm chủ yếu cũng như là điều kiện cho lĩnh vực câu cá giải trí phát triển. Ngoài ra, sự đa dạng của nhóm Cá xương thật xét về cả đặc điểm hình thái, cấu trúc cơ thể, tập tính môi trường sống - với mức độ lớn hơn tất cả các loài thú, chim, bò sátlưỡng cư cộng lại - khiến chúng chiếm một vị trí chủ đạo trong ngành nuôi cá cảnh, một ngành công nghiệp với doanh thu lên đến hàng triệu Mỹ kim.[3]

Phân loại và tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Hóa thạch sớm nhất của phân thứ lớp Cá xương thật có niên đại từ kỷ Tam điệp sớm. Đến kỷ Crêta chúng đã thống trị các môi trường sống nước ngọt lẫn nước mặn trên Trái Đất. Một số nhóm Cá xương thật nguyên thủy nhất có thể kể đến bao gồm các bộ Pholidophoriformes, Leptolepidiformes, Tselfatiformes và Osteoglossomorpha.[7] Theo danh sách dưới đây, phân thứ lớp này bao hàm 12 siêu bộ, tuy nhiên thông tin này có thể thay đổi vì quá trình nghiên cứu và phân loài các loài cá này vẫn còn tiếp diễn.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Palmer, Douglas (1999). The Marshall Illustrated Encyclopedia of Dinosaurs & Prehistoric animals. London: Marshall Editions Developments Ltd. ISBN 3-8290-6747-X. 
  2. ^ Sarah K. McMenamim và David M. Parichy. Animal Metamorphosis. Elsevier. tr. 128. 
  3. ^ a ă â b c Teleost trên Encyclopedia Britannica
  4. ^ Miller, Stephen, and John P. Harley. Zoology, Seventh Edition, pg 297. McGraw-Hill Higher Education. New York, 2007.
  5. ^ a ă â Benton, Michael J. (1990). Vertebrate Paleontology. London: Chapman & Hall. ISBN 0-412-54010-X. 
  6. ^ Ben Waggoner (17 tháng 7 năm 1995). “Telostei”. Museum of Paleontology, University of California, Berkeley. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2006. 
  7. ^ a ă Laura Klappenbach Teleosts About.com Guide
  8. ^ Theo ITIS, Gobiesociformes được xem là một phân bộ của Perciformes.
  9. ^ Theo ITIS, Syngnathiformes là một phân bộ của Gasterosteiformes.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Rust, S.; McDowall, R. (compilers) 2009: Checklist of New Zealand Chordata: New Zealand Mesozoic and Cenozoic teleost fishes (represented by fossil skeletons). P. 539 in Gordon, D.P. (ed.) New Zealand inventory of biodiversity. Volume 1. Kingdom Animalia. Radiata, Lophotrochozoa, Deuterostomia. Canterbury University Press, Christchurch, New Zealand ISBN 978-1-877257-72-8 doi:10.1080/03014223.2011.590213
  • Schwarzhans, W. (compiler) 2009: Checklist of New Zealand Chordata: New Zealand Cenozoic teleost fishes (represented by fossil otoliths). pp. 540–541 in Gordon, D.P. (ed.) New Zealand inventory of biodiversity. Volume 1. Kingdom Animalia. Radiata, Lophotrochozoa, Deuterostomia. Canterbury University Press, Christchurch, New Zealand. ISBN 978-1-877257-72-8
  • Phân thứ lớp Cá xương thật tại trang National Center for Biotechnology Information (NCBI).