Phương diện quân Viễn Đông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phương diện quân Viễn Đông
Red Army badge.gif
Hoạt động 23 tháng 6 năm 1941
5 tháng 8 năm 1945
Quốc gia  Liên Xô
Phục vụ Hồng quân Liên Xô
Chức năng Tổ chức tác chiến chiến lược
Quy mô Phương diện quân
Tham chiến Chiến dịch Mãn Châu (1945)
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Trung tướng I.Apanasenko
Thượng tướng Mikhail Purkaev

Phương diện quân Viễn Đông (tiếng Nga: Дальневосточный фронт) là một tổ chức tác chiến chiến lược của Hồng quân Liên Xô trong Chiến tranh thế giới II.

Trước chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau nội chiến, Phương diện quân Viễn Đông được tái thành lập vào ngày 28 tháng 6 năm 1938 từ Tập đoàn quân Viễn Đông đặc biệt cờ đỏ thuộc Quân khu Viễn Đông. Biên chế của phương diện quân gồm Tập đoàn quân cờ đỏ 1 và 2. Năm 1938, các đơn vị của phương diện quân – có vẻ là Sư đoàn súng trường 32 và Quân đoàn súng trường 39 – đã tham gia tấn công quân Nhật trong Chiến dịch hồ Khasan. Trước khi Chiến tranh Xô-Đức nổ ra, biên chế của phương diện quân gồm:

  • Tập đoàn quân cờ đỏ 1
    • Quân đoàn bộ binh 26
      • Sư đoàn bộ binh 21
      • Sư đoàn bộ binh 22
      • Sư đoàn bộ binh 26
    • Quân đoàn bộ binh 59
      • Sư đoàn bộ binh 39
      • Sư đoàn bộ binh 59
      • Lữ đoàn bộ binh 1
      • Lữ đoàn bộ binh 4
      • Lữ đoàn bộ binh 5
      • Sư đoàn kỵ binh 8
  • Tập đoàn quân cờ đỏ 2
  • Tập đoàn quân 15
  • Tập đoàn quân 25
    • Quân đoàn bộ binh 39
      • Sư đoàn bộ binh 32
      • Sư đoàn bộ binh 40
      • Sư đoàn bộ binh 92
      • 5 cụm tăng cường, pháo binh và công binh
  • Quân đoàn bộ binhg đặc biệt
    • Sư đoàn bộ binh 78
    • Sư đoàn bộ binh sơn cước 101
    • Sư đoàn bộ binh 35
    • Sư đoàn bộ binh 66
    • Sư đoàn bộ binh 78

Chiến tranh với Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 8 năm 1945, phương diện quân được chia ra và tổ chức thành phương diện quân Viễn Đông 1 và phương diện quân Viễn Đông 2.

Phương diện quân Viễn Đông 2, do đại tướng M. A. Purkayev chỉ huy (nhằm hướng Mãn Châu quốc), biên chế gồm:

  • Tập đoàn quân Cờ đỏ 2
  • Tập đoàn quân 15
  • Tập đoàn quân 16
  • Tập đoàn quân không quân 10

Phương diện quân Viễn Đông 1, do nguyên soái K. A. Meretskov chỉ huy (nhằm hướng bắc Mãn Châu quốc), biên chế gồm:

  • Tập đoàn quân Cờ đỏ 1
  • Tập đoàn quân 5
  • Tập đoàn quân 25
  • Tập đoàn quân 35
  • Cụm chiến dịch Chuguevsk
  • Giang đội Amur

Trong Chiến dịch Mãn Châu (1945), các phương diện quân Viễn Đông 1 và 2 tấn công các đơn vị chiếm đóng Nhật Bản ở Mãn Châu. Đạo quân Quan Đông của Lục quân Đế quốc Nhật Bản với hơn 1 triệu quân đã bị quân đội Liên Xô đánh tan. Đến ngày 21 tháng 8 thì Hồng quân Liên Xô đã hoàn toàn giải phóng Mãn Châu, quân Nhật ở Mãn Châu buộc phải đầu hàng Hồng quân.

Chỉ huy[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyên soái Vasily K. Blukher (từ 1 tháng 7 năm 1938 tới 4 tháng 9 năm 1938)
  • Quân đoàn trưởng Grigori M. Shtern (từ tháng 8 năm 1938; tháng 7 năm 1940 tới tháng 1 năm 1941)
  • Thượng tướng Iosif P. Apanasenko [tháng 1 năm 1941 thăng làm Đại tướng] (từ tháng 1 năm 1941 tới tháng 4 năm 1943)
  • Thượng tướng Maxim A. Purkaev [tháng 10 năm 1944 thăng làm Đại tướng] (từ tháng 4 năm 1943 tới tháng 8 năm 1945)

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]