Phạm Đức Trung Kiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phạm Đức Trung Kiên
Sinh 1 tháng 3, 1958 (56 tuổi)
Sài Gòn, Việt Nam
Nơi cư trú Hà Nội, Việt Nam
Quốc gia Cờ của Việt Nam Việt Nam Cờ của Hoa Kỳ Mỹ
Học vị MBAMA, Stanford Graduate School of Business
BS, University of Colorado at Boulder
Công việc Chủ tịch điều hành, Công ty Quảng Trường Đỏ
Phó Chủ tịch, Công ty Cổ phần Truyền thông VietNamNet
Chủ tịch, Quỹ Việt Nam
Chồng/vợ Thuy Phan
Con cái 3
Website
http://www.vnfoundation.org


Phạm Đức Trung Kiên (sinh 1958) là một doanh nhân người Việt. Ông hiện đang quản lý Công ty Quảng Trường Đỏ (RSVN), một quỹ đầu tư tư nhân. Ngoài ra, ông còn giữ vai trò Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Truyền thông VietNamNet (VMG). Ông còn là Chủ tịch sáng lập Quỹ Việt Nam và đã từng là Giám đốc Điều hành sáng lập Quỹ Giáo Dục Việt Nam. Trong kinh doanh, ông đã từng tham gia điều hành một số công ty đa quốc gia trong danh sách Fortune 500, cũng như làm chủ những công ty hoạt động ở lĩnh vực công nghệ và tư vấn đầu tư. Trong chính phủ, ông từng phục vụ trong ngành hành pháp dưới thời Tổng thống Ronald Reagan, George H. Bush, và George W. Bush cũng như trong Quốc hội Hoa Kỳ. Về lĩnh vực xã hội, ông đã lập nhiều quỹ phi lợi nhuận để hỗ trợ sinh viên, trẻ mồ côi và người khuyết tật ở Việt Nam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông Kiên lớn lên tại Sài Gòn, Việt Nam. Năm 1977, khi tròn 19 tuổi, ông cùng gia đình di cư sang Mỹ. Gia đình ông định cư tại Colorado, ở đó ông làm công nhân tại nhà máy sản xuất xe đẩy trẻ em, cùng lúc đó ông học tiếng Anh và sau này học Đại học theo chương trình học bổng. Ông nhận bằng Cử nhân về Marketing và Kinh doanh Quốc tế của Đại học Colorado tại Boulder, và giành học bổng du học tại Anh. Tại Đại học Stanford, cùng một lúc ông đạt được được bằng Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh về Quản lý Tổ chức và Quốc tế, bằng Thạc sĩ Kinh tế Quốc tế và Chứng chỉ đặc biệt về Quản lý Hành chính.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

VietNamNet Media Group[sửa | sửa mã nguồn]

Ông Phạm Đức Trung Kiên là Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Truyền thông VietNamNet (VMG). Trong thời gian từ 2006-2007, ông Kiên giữ vai trò Tổng Giám đốc và đã dẫn dắt công ty qua một quá trình tái cơ cấu các đơn vị kinh doanh và chuẩn bị cho công ty đi vào giai đoạn mở rộng trong nước cũng như quốc tế. VMG là một công ty dẫn đầu trong lĩnh vực truyền thông, giải trí và internet tại Việt Nam. Ngành nghề kinh doanh chính bao gồm cổng tin tức trực tuyến, tạp chí tuần và tháng, dịch vụ giá trị gia tăng trên điện thoại di động, sản xuất chương trình trên truyền hình cáp, marketing thương hiệu và quản lý truyền thông.

Quỹ Giáo Dục Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 2003 đến 2006, ông Kiên là Giám đốc Điều Hành sáng lập Quỹ Giáo Dục Việt Nam (VEF), một cơ quan độc lập của chính phủ Hoa Kỳ được thành lập để gắn kết Việt Nam và Hoa Kỳ thông qua trao đổi giáo dục. Ông bắt đầu gây dựng quỹ từ vạch xuất phát đi đến thành công vang dội trong vòng 3 năm, với hơn 200 học giả hàng đầu Việt Nam học tập và nghiên cứu tại những trường đại học hàng đầu của Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ đã áp dụng mô hình hoạt động của VEF để mở rộng chương trình học bổng lâu đời Fulbright trên phạm vi toàn cầu.

Utility Choice Electric[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thời gian làm việc tại VEF, ông Kiên từng đảm nhiệm vai trò Giám đốc Điều hành Cao cấp Công ty Utility Choice Electric, một công ty tư nhân cung cấp điện ở Houston, Texas. Ông chịu trách nhiệm hoạch định chiến lược kinh doanh, hoạt động hợp tác và liên kết của công ty, và tập trung vào bảo đảm nguồn tài chính nhằm đẩy nhanh sự tăng trưởng chiến lược cho công ty.

4Real Ventures[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi gia nhập Utility Choice Electric, ông Kiên là Giám đốc Quản lý Điều hành 4Real Ventures, một công ty tư nhân đóng góp cho khởi đầu công nghệ cao tại Thung lũng Silicon và tại Việt Nam. Ông đã đóng góp đáng kể cho hoạt động triển khai Internet và công nghiệp phần mềm tại Việt Nam. Thông qua những dự án kinh doanh của ông, Microsoft có thể tiếp cận với hàng trăm kỹ sư phần mềm Việt Nam và đào tạo họ để sử dụng các công cụ phát triển và công nghệ của Microsoft. Ông mở đường cho một số công ty Việt Nam khởi động xuất khẩu phần mềm và cũng dẫn đường cho họ tới thị trường Hoa Kỳ. Trong số các dự án kinh doanh của mình, ông đã xây dựng nên một mô hình tư vấn để trợ giúp các công ty lớn của Hoa Kỳ tại châu Á/Thái Bình Dương. Ông giúp các công ty này trong việc định hình chiến lược, đánh giá thị trường và theo đuổi mục tiêu mở rộng kinh doanh xuyên vùng.

Tập đoàn Tenneco[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1992 đến 1997, ông Kiên là nhà điều hành quốc tế tại Tập đoàn Tenneco. Ông dẫn dắt Tenneco xâm nhập vào các thị trường năng lượng châu Á và đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng Giám đốc tại khu vực châu Á/Thái Bình Dương. Dưới sự lãnh đạo của ông, Tenneco nổi bật trong khu vực về lĩnh vực kinh doanh đường dẫn khí đốt và sản xuất điện.

Lầu Năm Góc[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1989 đến 1992, ông Kiên Phạm được bổ nhiệm làm quan chức của Lầu Năm Góc chuyên về các vấn đề an ninh quốc tế cho Văn phòng Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng. Ông làm nhiệm vụ cố vấn cho các quan chức quốc phòng cao cấp về vấn đề kinh tế, chính trị và an ninh ở châu Á, châu Mỹ Latinh, châu Phi, và Trung Đông. Ông cũng đồng thời giám sát những nhóm đặc nhiệm để thực hiện những nhiệm vụ có độ nhạy cảm cao vượt qua ranh giới tổ chức bình thường và đòi hỏi định hướng chuyên sâu. Trong suốt chiến tranh Vùng Vịnh, ông là thành viên nhóm Quản lý Biến động của Lầu Năm Góc. Ông đóng vai trò đi đầu trong định hình Kế hoạch Chia sẻ Gánh nặng Liên minh, kế hoạch gây quỹ được 60 tỷ đô la Mỹ cho lực lượng liên minh.

Tập đoàn quốc tế Procter & Gamble[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1986 đến 1989, Ông Kiên là Giám đốc Marketing của Tập đoàn quốc tế Procter & Gamble. Ông góp phần tạo dựng kế hoạch chiến lược xâm nhập châu Á đưa công ty đến với thành công vang dội tại khu vực. Ông Kiên còn quản lý những chương trình marketing đặc biệt cho thị trường Mỹ, bao gồm việc xoay chuyển được tình thế thua lỗ 30 triệu đô la Mỹ của dự án kinh doanh chăm sóc sắc đẹp.

Nhà Trắng[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1985 đến 1986, Ông Kiên làm việc tại Nhà Trắng dưới thời Tổng thống Reagan với tư cách là White House Fellow và trợ lý đặc biệt cho Đại diện Thương mại Hoa Kỳ. Ông là một trong số những người trẻ tuổi nhất được Tổng thống Reagan chọn cho chương trình danh giá này. Ông tham gia vào các cuộc đàm phán thương mại song phương giữa Hoa Kỳ và các nước châu Á. Ông cũng từng là trợ lý cho Thượng Nghị sỹ Gary Hart và tư vấn dự án cho Cơ quan Phát triển Quốc tế của Hoa Kỳ tại Bangkok.

Hoạt động từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Vietnam Foundation[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, cùng với Tiến sĩ Ray Gamble và ông Robert Schiffer, ông Kiên đã thành lập Quỹ Việt Nam (VNF), một tổ chức phi lợi nhuận, với mục tiêu nâng cao cuộc sống của người Việt Nam thông qua giáo dục. VNF là tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động theo điều luật 501 (c) (3). Trụ sở của VNF đặt tại Washington D.C., và có văn phòng đại diện tại Hà Nội, Việt Nam.

Một trong các chương trình trọng điểm của VNF mà ông Kiên ủng hộ mạnh mẽ là Tài Nguyên Giáo Dục Mở. VNF đang phát triển và quản lý chương trình Tài Nguyên Giáo Dục Mở Việt Nam và là thành viên sáng lập của Liên minh sử dụng công nghệ tài nguyên giáo dục mở.

Hoạt động từ thiện khác[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1997 đến 1999, ông Kiên đã dùng kỳ nghỉ phép của mình để dẫn đầu một chiến dịch âm thầm và thành công để trả tự do cho những tù binh chính trị tại Việt Nam và hoàn thành một tuyển tập thơ. Ông đã tiến hành nhiều cuộc đàm phán kín về số phận của những tù binh chính trị và điều phối việc thương lượng giữa các quan chức an ninh Hoa Kỳ và Việt Nam. Dưới sáng kiến của ông, hơn 400 tù nhân đã được thả khỏi các trại lao động và được di cư sang Mỹ.

Ông Kiên Phạm đã sáng lập một quỹ phi lợi nhuận để ủng hộ trẻ mồ côi, xây trường học và tài trợ học bổng cho sinh viên đại học tại Việt Nam.

Quỹ Diễn Đàn Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Ông Kiên còn là người sáng lập và Chủ tịch Quỹ Diễn Đàn Việt. Ông cũng giữ vai trò là thành viên Ban Quản trị của Quỹ hỗ trợ Người tàn tật Việt Nam.

Giải thưởng và công nhận[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2007: Danh hiệu “Pacific Leadership Fellow” của Trường Quan hệ Quốc tế và Nghiên cứu Thái Bình Dương, Đại học Tổng hợp California ở San Diego
  • 2006: Giải thưởng “Torch of Tomorrow” cho những thành công của ông ở VEF
  • 2005: Giải thưởng Vinh Danh Nước Việt
  • 2004: Tiến sỹ Luật Danh dự tại trường Đại học Pfeiffer
  • 2000: Giải thưởng “White House Fellows Legacy of Leadership” cho các hoạt động từ thiện
  • 1996: Giải thưởng “Never Fear, Never Quit”
  • 1994: Giải thưởng “Tenneco Leadership” cho những thành tích kinh doanh
  • 1993: Thành viên thường kỳ của Ủy ban Ngoại giao và tham dự tổ chức American Assembly
  • 1992: Tổ chức Japan Society chọn là “U.S.-Japan Leadership Fellow”
  • 1992: Giải thưởng “Achievement Awards” của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
  • 1990: Ghi danh một trong “100 Cựu Sinh Viên Xuất Sắc Nhất” trong lịch sử 100 năm của Đại học Stanford
  • 1988: Giải thưởng “Turnaround of the Year” do Chủ tịch tập đoàn P&G trao tặng
  • 1986: Ủy ban Hoa Kỳ về Quốc gia Đức chọn là nhà Lãnh đạo trẻ
  • 1985: Được chọn làm White House Fellow.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]