Phạt đền (bóng đá)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lionel Messi thực hiện một quả phạt đền.

Phạt đền, Đá 11m hay còn được gọi là Penalty ở các quốc gia sử dụng tiếng Anh là một kiểu đá phạt trong bóng đá, vị trí của quả đá phạt này khoảng 11 mét tính từ khung thành và thủ môn của đội bị phạt. Đây là cú đá chỉ có sự tham gia của một cầu thủ đội tấn công (người sút phạt đền) và thủ môn đội phòng ngự.[1] Phạt đền còn được sử dụng trong trận đấu như là một cách để phân định thắng thua, khi cả hai đội bóng hòa nhau trong cả hai hiệp đấu lẫn hiệp phụ thì họ sẽ phải bước vào loạt đá phạt đền. Cách này được áp dụng trong các trận đấu loại trực tiếp.

Trên thực tế, thường các quả đá phạt được biến thành bàn thắng ngay cả khi thủ môn có đẳng cấp quốc tế. Điều này có nghĩa rằng phạt đền mang tính chất quyết định, đặc biệt trong các trận đấu có tỉ số thấp. Đá trượt phạt đền thường ảnh hưởng nặng tới tâm lý cầu thủ vì đã bỏ lỡ một cơ hội dễ dàng để ghi bàn.

Tình huống[sửa | sửa mã nguồn]

Trọng tài sẽ thổi phạt đền khi cầu thủ của đội phòng ngự phạm lỗi với cầu thủ của đội tấn công hoặc để bóng chạm tay trong vòng cấm. Cần lưu ý vị trí này là vị trí lỗi xảy ra chứ không phải vị trí quả bóng dừng lại.

Tình huống phạt đền cũng có thể xảy ra trong hai tình huống đặc biệt khác: hoặc lỗi được thực hiện ngoài vòng cấm nhưng trọng tài nhận định sai lầm, hoặc trong vòng cấm nhưng cầu thủ tấn công đánh lừa được trọng tài là có lỗi xảy ra trong khi sự thật lại không có. Mặc dù đó không phải là tinh thần hay nguyên tắc của bóng đá nhưng quyết định của trọng tài đưa ra đã theo luật bóng đá và kết quả sẽ không thể bị thay đổi về sau. Nhiều cầu thủ lợi dụng điều này đã cố gắng tìm đủ mọi cách đánh lừa người cầm còi và vì vậy gây ra nhiều tranh cãi trong trận đấu.

Trọng tài sẽ ra hiệu đá phạt đền bằng cách thổi còi và chỉ tay vào dấu chấm phạt đền

Cách thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Bình thường[sửa | sửa mã nguồn]

David Villa thực hiện quả phạt đền.

Quả phạt đền phải được thực hiện từ dấu chấm phạt đền cách tâm khung thành 11m. Cầu thủ thực hiện có thể là mọi cầu thủ trong đội bóng được hưởng quả phạt chứ không chỉ riêng cầu thủ bị phạm lỗi và phải được trọng tài xác nhận.

Tất cả các cầu thủ ngoại trừ thủ môn của đội phòng ngự và cầu thủ đá phạt, phải đứng ngoài vòng cấm địa, sau dấu chấm phạt đền và cách dấu chấm phạt đền tối thiểu 9m15 cho tới khi trái bóng được đá. Thủ môn phải giữ vị trí giữa hai cọc khung thành trên vạch vôi và quay mặt vào trái bóng cho tới khi trái bóng được đá và chỉ có thể di chuyển theo chiều ngang. Nếu thủ môn di chuyển về phía trước trước khi bóng được đá, cú đá sẽ được thực hiện lại nếu bàn thắng chưa được ghi.

Một quả phạt đền sẽ được thực hiện sau tiếng còi của trọng tài và được tính thành bàn thắng khi quả bóng lăn qua vạch vôi trước khung thành.

Bóng nhập cuộc khi được đá và di chuyển, tại thời điểm này, các cầu thủ khác có thể nhập vòng cấm và tiếp tục chơi như bình thường. Hầu hết trường hợp bàn thắng đã được ghi, bóng đã đi hết đường biên ngang hoặc thủ môn đã khống chế được bóng. Đôi khi, bóng được thủ môn đẩy ra hoặc bật xà ngang, cột dọc; nếu điều này xảy ra, bàn thắng tiếp theo nếu có sẽ không được tính là đá phạt đền, mặc dù có thể được ghi từ quả bóng bị bật ra.

Đá phạt đền là một hình thức đá phạt tự do trực tiếp, nghĩa là bàn thắng có thể được ghi trực tiếp từ cú đá phạt. Nếu bàn thắng không được ghi, trận đấu sẽ tiếp tục như bình thường. Cũng như các cú đá tự do khác, người đá phạt không được chạm bóng lần thứ hai nếu bóng chưa chạm một cầu thủ khác ngay cả khi bóng nảy ra từ cọc hoặc xà. Tuy nhiên, đá phạt đền khác đá tự do ở chỗ nếu có các nhân tố bên ngoài tác động, cú đá sẽ được thực hiện lại thay vì như bình thường là trọng tài tung bóng.

Đá phối hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Hai cầu thủ có thể phối hợp để thực hiện đá phạt đền, theo đó cầu thủ thứ nhất thay vì đá thẳng vào khung thành chỉ đẩy nhẹ bóng về phía trước và cầu thủ thứ hai có thể chạy vào đá tiếp để ghi bàn. Giống các cầu thủ khác, cầu thủ thứ hai cũng phải cách khung thành 9m15. Chiến thuật này phụ thuộc vào yếu tố ngạc nhiên để cầu thủ thứ hai có thể đá được bóng trước các cầu thủ của đội phòng ngự. Chiến thuật này trở nên nổi tiếng nhờ Johan Cruyff trong trận đấu cho AFC Ajax năm 1982.[2]

Vi phạm luật đá phạt đền[sửa | sửa mã nguồn]

Vi phạm luật đá phạt đền được xử lý sử dụng các khái niệm lợi thế.

Nói chung:

  • Lỗi của đội phòng ngự, trước khi quả đá được thực hiện, nếu bàn thắng được ghi, bàn thắng được công nhận, nếu không, đá lại.
  • Lỗi của đội thực hiện đá phạt đền, nếu bàn thắng được ghi, đá lại, nếu không đội tấn công sẽ bị phạt gián tiếp tại địa điểm phạm lỗi.
  • Cả hai cùng có lỗi, đá lại.
  • Nếu cầu thủ thực hiện đá phạt đền (kể cả khi bóng nảy ra từ cọc/xà và không chạm thủ môn) sẽ bị phạt gián tiếp tại địa điểm có lỗi (Theo luật số 8 trong Luật Bóng đá)

Trọng tài có thể phạt thẻ vàng đối với các cầu thủ vi phạm luật đá phạt đền như cố tình xâm nhập vòng cấm nhiều lần. Tuy vậy, trên thực tế, hầu hết các vi phạm đá phạt đền không bị phạt thẻ.

Lưu ý rằng tất cả các lỗi trước khi đá phạt đều được xử lý theo cách trên. Ví dụ, nếu đội phòng ngự cản trở di chuyển của đối phương (kể cả về phía khung thành hoặc ra xa khung thành) trước khi quả đá được thực hiện, nếu bàn thắng không được ghi, trọng tài có thể cho phép đá lại. Các lỗi khác do bất kỳ đội nào vi phạm sẽ được xử lý theo bốn điểm như trên.

Chiến thuật cản phá phạt đền[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ Ryan Valentine ghi bàn từ chấm phạt đền.

Cản phá phạt đền là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất của thủ môn. Do khoảng cách giữa điểm đá phạt và khung thành là rất gần cũng như thủ môn không có nhiều thời gian để phản xạ. Vì vậy, một số thủ môn thường đoán hướng và bắt đầu đổ người trước khi quả bóng được sút. Một số khác cố gắng đọc ý nghĩ từ cách di chuyển của cầu thủ đá phạt. Mặt khác, cầu thủ đá phạt cũng thường làm động tác giả và di chuyển từ từ để đánh lạc hướng thủ môn. Một cách tiếp cận có tỉ lệ thành công cao là đá cao giữa khung thành vào khoảng trống mà thủ môn sẽ để lại sau khi đã bay người, cách này cũng có rủi ro cao khi quả bóng dễ bay vọt hoặc dội xà ngang.

Khi cầu thủ đá chạy đà, thủ môn chỉ có một vài giây để đọc di chuyển và phán đoán hướng bóng. Nếu phán đoán tốt, có thể sẽ cản phá được quả đá. Helmuth Duckadam thủ môn của đội Steaua Bucharest đã lập kỷ lục cản phá 4 quả phạt đền liên tiếp trong trận chung kết Cúp châu Âu năm 1986 với FC Barcelona. Ông bay người 3 lần về bên phải và lần thứ 4 về bên trái và đẩy tất cả các quả sút phạt mang lại chiến thắng cho đội mình.

Thủ môn cũng có thể dựa vào kiến thức về thói quen sút phạt của cầu thủ để quyết định. Một ví dụ là cựu thủ môn ĐTQG Hà Lan Hans van Breukelen luôn có một hộp chứa các thẻ có tất cả thông tin về những chuyên gia sút phạt của đối phương. Một ví dụ khác là thủ môn tuyển quốc gia Bồ Đào Nha Ricardo trong trận đấu với ĐT Anh tại World Cup 2006 đã cứu 4 quả phạt đền và suýt cản phá được quả thứ 5. Trận đấu giữa tuyển quốc gia Argentina và tuyển quốc gia Đức cũng được kết thúc bằng phạt đền và người ta thấy Jens Lehmann xem một mẩu giấy giấu ở trong tất trước khi mỗi cầu thủ Argentina lên đá. Người ta cho rằng thói quen sút phạt của cầu thủ được ghi trong tờ giấy. Cách tiếp cận này không phải lúc nào cũng thành công. Hầu hết trường hợp, đặc biệt trong các giải không chuyên, thủ môn buộc phải đoán mò. Đá phạt đền thường là đấu trí hơn là đấu kỹ năng.

Thủ môn cũng có thể cố gắng làm cầu thủ đá phạt xao nhãng, do kỳ vọng thường là quả đá thành công, cầu thủ đá phạt sẽ bị thêm áp lực và từ đó có thể mắc lỗi. Ví dụ trong trận chung kết Champions League năm 2008 giữa Manchester UnitedChelsea, Edwin van der Sar chỉ sang bên trái khi Nicolas Anelka tiến lên để đá phạt. Trước đó, tất cả các quả đá của Chelsea đều về bên trái. Anelka đá vào bên phải và bị cản phá. Thủ môn Bruce Grobbelaar của Liverpool sử dụng một phương pháp tạo sao nhãng gọi là "chân mì sợi" (spaghetti legs) và đã đưa câu lạc bộ của mình vượt qua AS Roma để đoạt cúp châu âu năm 1984. Phương pháp này sau đó lại được thủ môn Jerzy Dudek sử dụng trên loat luân lưu để giúp Liverpool đánh bại AC Milan trong trận chung kết UEFA Champions League 2005.

Một phương pháp trái luật để cản phá penalty là thủ môn nhảy ngắn và nhanh về phía trước ngay trước khi cầu thủ chạm bóng. Điều này không những thu hẹp góc sút mà còn làm sao nhãng cầu thủ đá phạt. Phương pháp này được thủ môn Taffarel của Brazil áp dụng. Thời đó, FIFA chưa nghiêm khắc về áp dụng luật này. Gần đây, FIFA đã chỉ thị các trọng tài áp dụng nghiêm chỉnh luật.

Tương tự như vậy, một thủ môn cũng có thể tìm cách trì hoãn quả phạt đền bằng cách làm sạch giày của mình, đề nghị trọng tài kiểm tra xem quả bóng đã được đặt đúng vị trí chưa và các thủ thuật trì hoãn khác. phương pháp này có thể tạo nhiều áp lực hơn cho cầu thủ đá phạt, nhưng thủ môn cũng có nguy cơ nhận thẻ phạt, thường là một thẻ vàng.

Ngay cả khi thủ môn cố gắng chặn được cú sút, bóng thường sẽ bật ngược trở lại ra những vị trí mà cầu thủ đá phạt hoặc đồng đội của anh ta có thể thực hiện 1 cú sút bồi.Việc cản phá thành công lần thứ hai dường như là không thể khi mà cầu thủ tấn công đã ở gần khung thành hơn còn thủ môn lại ở vị trí khó có thể cản phá bóng lần nữa.Tuy vậy, trong loạt sút luân lưu, điều này không đáng lo ngại do mỗi quả phạt chỉ được phép thực hiện 1 lần.

Một giáo sư người Đức đã nghiên cứ thống kê những quả phạt đền tại giải Bundesliga trong 16 năm và khám phá ra rằng trong 16 năm có tất cả 76% quả phạt đền thành công, và 99% những cú sút vào nửa phía trên khung thành thành bàn, mặc dù những cú sút như vậy thường đem đến nhiều rủi ro. Trong suốt sự nghiệp của mình, Roberto Baggio đã có hai lần sút bóng trúng xà ngang, bóng bật xuống, nảy qua thủ môn và vượt qua vạch vôi thành bàn.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Bình thường, phạt đền là một trong những cách hữu hiệu nhất để một cầu thủ ghi bàn thắng cho đội bóng của mình. Thế nhưng đôi khi, nó lại trở nên cực kì khó khăn vì việc đá có thành công hay không còn tùy thuộc vào thời tiết, mặt sân (tốt hay xấu), tâm lí cầu thủ có ổn định không khi phải chịu sức ép từ phía khán giả và cả thủ môn đội bị phạt có xuất sắc hay không. Ví dụ trong trận chung kết UEFA Champions League 2008 phải giải quyết trên chấm phạt đền giữa ChelseaManchester United, Chelsea đã thua khi đội trưởng John Terry đá bóng ra ngoài bởi mặt sân trơn và đầy nước mưa.[3]

Luân lưu 11m[sửa | sửa mã nguồn]

Luân lưu 11m là loạt sút phạt đền ở trong những trận đấu loại trực tiếp, cần phải xác định thắng/thua để chọn 1 đội vào vòng kế tiếp (trong các trận tranh cúp hay tranh play-off) nếu kết quả hòa sau 90 phút đá hai hiệp chính và 30 phút đá hai hiệp phụ. Nếu có sự phân bại thắng/thua ở hai hiệp phụ thì trận đấu sẽ kết thúc, không phải đá luân lưu nữa. Trọng tài sẽ tung đồng tiên lên trên cao để xác định đội nào được đá luân lưu trước. Lần lượt, đội này đá xong quả phạt đền thì đến lượt đội kia sẽ đá tiếp. Sau khi mỗi đội thực hiện 5 lượt sút luân lưu chính thức, đội nào có nhiều quả phạt đền thành công hơn thì sẽ thắng, nếu 2 đội có số quả phạt đền thành công bằng nhau, thì tiếp tục loạt sút luân lưu, đến khi trong một lượt sút có một đội thực hiện thành công còn đội kia đá hỏng thì loạt luân lưu sẽ kết thúc. Trong một số trường hợp, loạt luân lưu có thể kết thúc trước khi thực hiện lượt sút thứ 5 khi một đội đã chắc chắn chiến thắng dù kết quả ở các lượt sút còn lại (nếu đá tiếp) có như thế nào đi chăng nữa.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ (tiếng Anh) “Laws of the game (Law 14–The Penalty Kick)”. FIFA. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2007. 
  2. ^ http://www.guardian.co.uk/football/2005/oct/26/theknowledge.sport
  3. ^ Doãn Mạnh (22 tháng 5 năm 2008). “MU lên đỉnh Champion League sau loạt đấu súng nghẹt thở”. Việt báo. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]