Phật giáo Nguyên thủy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Phật giáo Nam tông)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thể loại 
Phật giáo

Dharma Wheel.svg
Chủ đề

Lịch sử
Thích-ca Mâu-ni
Các đệ tử

Thuật ngữ

Tứ diệu đế
Duyên khởi
Vô thường
Khổ · Vô ngã
Trung đạo · Tính không
Ngũ uẩn
Nghiệp chướng · Đầu thai
Luân hồi

Tam học

Tam bảo
Giới · Sự cứu cánh
Thiền (Phật giáo) · Bát-nhã
Bát chính đạo
Tam thập thất bồ-đề phần
Tăng-già · Cư sĩ

Tông phái · Kinh điển
Thượng tọa bộ · Tiểu thừa
Đại thừa
Đại Tạng Kinh Trung Quốc
Kim cương thừa
Đại Tạng Kinh Tây Tạng

Phật giáo Nguyên thủy, Theravàda hay còn gọi là Thượng tọa bộ còn được hiểu là một truyền thống Phật giáo lâu đời nhất, gần gũi với đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhất.

Phái này được Ma-hi-đà đưa về Tích Lan năm 250 trước Công nguyên và được các cao tăng tại Đại tự (pi. mahāvihāra) gìn giữ. Về giới luật cũng có một số bất đồng trong nội bộ phái Thượng tọa bộ. Ngày nay Thượng tọa bộ được lưu hành tại các nước Ấn Độ, Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Myanma, Lào, miền nam Việt Nam và Campuchia, nên còn được gọi là Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Nam Tông.

Phật giáo Nguyên Thủy được các quốc gia khác nhau và rất nhiều người trên thế giới đi theo, như là:

  • Tây Phương nhánh Phật giáo Nguyên Thủy cũng tăng phổ biến gần đây.

Ngày nay, Phật tử Thượng Tọa bộ còn được gọi là Theravadin (tạm gọi là Nguyên Thủy giáo đồ), số lượng có 150 triệu người toàn thế giới, và trong suốt vài thập kỷ qua, Phật giáo Thượng Tọa bộ đã bắt đầu bén rễ ở Phương Tây [a] và ở tại Phật giáo hồi sinh tại Ấn Độ.[web 2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội kết tập kinh điển lần thứ hai được tổ chức tại thành Tỳ Xá Ly (Vaishali), 100 năm sau ngày đức Thế Tôn nhập diệt. Lý do triệu tập hội nghị là vì những bất đồng về kỷ luật (phá giới) của các sư tại Vaishali và các đệ tử của Ngài A Nan. Các sư tại Vaishali chấp nhận cúng dường bằng tiền và vàng bạc, dù việc nầy phạm luật. Các sư nầy còn bị cáo buộc bởi phái Yasha (một đệ tử của A Nan) chín sự vi phạm khác, trong đó có thọ thực bất thời tức là ăn nhiều lần trong ngày, uống rượu, giữ vàng bạc v.v. Để trả đủa, các sư Vaishali khai trừ trưởng lão Yasha vì những lời cáo buộc của ông. Do đó hội nghị thứ hai được triệu tập với sự hiện diện của 700 vị A la hán và hội đồng gồm bốn sư trưởng lão đã phán quyết rằng các sư Vaishali có tội. Các sư Vaishali đã chấp nhận sự phán quyết mà không một lời phản kháng. Mặc dù không chống đối với quyết định của hội đồng, nhưng sau đó các sư Vaishali kết hợp với thành phần số đông cư sĩ ủng hộ thành lập nhóm phát triển mà sau này gọi là Đại chúng bộ tức là tiền thân của Phật giáo Phát triển (Bắc tông).[1] Phật giáo Nguyên Thủy là xuất gốc từ phái Đồng Diệp bộ, đó có nghĩa "Dòng dõi người Sri Lanka." Vào thế kỷ thứ VII SCN, các du tăng Trung Quốc là sư Huyền TrangNghĩa Tịnh có nhắc đến các trường phái Phật giáo ở Sri Lanka là Shàngzuòbù (上座部, Thượng Tọa bộ), tương ứng với tiếng Sanskrit là "Sthavira Nikāya" và tiếng Pali là "Thera Nikāya."[b][c]. Trường phái này đã sử dụng chính cái tên Theravāda dưới dạng văn bản ít nhất từ thế kỷ thứ IV, thuật ngữ này được xuất hiện trong Đảo sử (Dīpavaṁsa).[d]

Truyền đến Sri Lanka[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nhà học giả Phật giáo A.K. Warder, thì Phật giáo Nguyên Thủy: ... nhanh chóng lan rộng về phía nam từ Avanti vào Maharastra và Andhra và xuống đến nước Chola (Kanchi), cũng như ở Tích Lan. Trong một thời gian họ tự mình nắm giữ ở Avanti cũng như các vùng lãnh thổ mới của họ, nhưng dần dần họ có xu hướng tự mình tụ tập lại ở miền nam, tòa Đại Xá (Mahavihara) ở Anuradhapura, kinh đô của nước Tích Lan, trở thành trung tâm chính về tín ngưỡng lưu truyền của họ, còn Kanchi là trung tâm thứ cấp và ở vùng phía bắc dường như đã từ bỏ các trường phái khác.

Theo như biên niên sử Pali của truyền thống người Sinhala, Phật giáo lần đầu tiên được đưa đến Sri Lanka do vị A-la-hán là Ma-hi-đà (Mahinda), người được cho là con trai của đức vua A-dục vương - vua của Đế quốc Maurya, ở thế kỷ thứ III TCN, một phần của dhammaduta (người truyền giáo) hoạt động vào thời vua A-dục. Ở Sri Lanka, ngài A-la-hán Ma-hi-đà đã thành lập Tu viện Đại Xá của Anuradhapura.

Phân nhánh phái Nguyên Thủy[sửa | sửa mã nguồn]

Trong hơn nhiều về lịch sử đầu tiên ở Sri Lanka, ba phân khu của Phật giáo Nguyên Thủy còn tồn tại ở Sri Lanka, bao gồm các tu sĩ của phái Đại Tự (Mahāvihāra), Tịnh xá Abhayagiri, và Tịnh xá Kỳ Viên. Tòa Đại Tự là nơi truyền bá đầu tiên được xây dựng, trong khi đó tịnh xá Abhayagiri and tịnh xá Kỳ Viên được thành lập do các nhà sư bị tan ra từ tín truyền Mahāvihāra (Đại Xá). Theo như A.K. Warder, phái Hóa Địa bộ Ấn Độ cũng đã tự thành lập ở Sri Lanka cùng với phái Theravāda, và chúng được tiếp thụ sau này.[4] Khu vực phía bắc của Sri Lanka dường như cũng đã nhường lại cho các thể phái từ Ấn Độ trong thời gian nhất định.

Lan đến Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Tàn tích của Bagan, cố đô của Miến Điện. Hiện có hơn 2000 ngôi chùa Phật giáo. Trong thời đỉnh cao quyền lực của Bagan có đến 13'000 ngôi chùa.

Hiện đại hóa và lan rộng đến Tây phương[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Phật Laykyun Setkyar trong ngôi làng của Khatakan Taung, gần Monywa ở Miến Điện. Đó là bức tượng cao thứ hai trên thế giới.

Vào thế kỷ XIX đã bắt đầu có một quá trình ảnh hưởng lẫn nhau của cả hai bên giữa phái Thượng Tọa bộ châu Á và một nhóm khán giả phương Tây quan tâm đến nền minh triết cổ xưa. Đặc biệt, Helena Blavatskyvà Henry Steel Olcott, những người sáng lập ra Hội Thông Thiên học (hay Hiệp hội Thần Trí học) đã có một vai trò sâu sắc trong quá trình này. Ở các nước Theravāda, loại Thiền Minh Sát được thực hành phát triển. Từ những năm 1970 về sự quan tâm của Phương Tây đã quay hướng đến sự phát triển của cái gọi là phong trào Thiền Minh sát ở Tây phương.

Sự khác biệt giáo lý với các trường phái khác[sửa | sửa mã nguồn]

Các bậc A-la-hán là hoàn hảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phái Phật giáo Phát triển (Bắc tông) cho rằng A-la-hán còn có thoái lui, trong khi phái Nguyên Thủy cho rằng các A-la-hán có một "thể tính cao khiết", và hoàn toàn tĩnh lặng.

Đức Phật Thích Ca cũng là một bậc A-la-hán toàn giác.

A-la-hán cũng là một trong các danh hiệu Đức Phật.

Quán sát là bất ngờ và hoàn toàn[sửa | sửa mã nguồn]

Theo như Nguyên Thủy, "những tiến bộ trong hiểu biết đến đồng lúc, 'sự nhìn thấu bên trong sự vật' (Hiện Quán, abhisamaya) không phải là đến 'dần dần' (liên tiếp - anapurva)".

Điều này được phản ánh ở trong bản cáo của Theravada trên Tứ thánh quả, trong đó sự đạt được bốn thánh quả này xuất hiện bất ngờ, và những uế nhiễm cũng được xả bỏ ra cùng lúc. Lập trường tương tự cũng đã được ứng dụng ở phong trào Thiền Minh sát hiện nay, đặc biệt với cái gọi là "Tân Miến Điện Pháp".

Các Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Một nhà Sư Thái Lan thiền tịnh

Các lễ hội và phong tục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lễ trăng tròn (Magha Puja).
  • Lễ Phật Đản (Vesakha Puja).
  • Asalha Puja
  • Lễ Bố Tát (Uposatha).
  • An cư kết hạ (Vassa, ẩn mưa)

Danh sách các nước đa phần theo Phật giáo Nguyên Thuỷ[sửa | sửa mã nguồn]

Rank Quốc gia Dân số Số % tín đồ Tổng số tín đồ Tầm quan trọng
1  Thái Lan 66,720,153[web 3] 94.6%[web 4] 63,117,265 97%[web 5]
2  Miến Điện 60,280,000[web 6] 89%[web 7] 53,649,200 96%[web 5]
3  Sri Lanka 20,277,597 70.2% 14,222,844 100%[web 5]
4  Campuchia 14,701,717[web 8] 96.4%[web 8] 14,172,455 95%[web 5]
5  Lào 6,477,211[web 9] 67%[web 9] 4,339,731 98%[web 5]

Sưu tập[sửa | sửa mã nguồn]

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ John Bullit: "Trong thế kỷ trước, mặc dù Phương Tây đã bắt đầu chú ý đến những di sản tinh thần độc đáo và giáo huấn về Giác Thức của Phật giáo Nguyên Thủy. Trong những thập kỷ gần đây, sự quan tâm này đã tang lên, với những vị Tăng-già tu sĩ đến từ các trường phái khác nhau trong Phật giáo Nguyên Thủy thành lập hàng chục chùa viện trên khắp châu Âu và Bắc Mỹ."[web 1]
  2. ^ Huyền Trang đã đề cập đến các vị Phật tử ở Sri Lanka rằng "Họ chủ yếu làm theo lời dạy của Đức Phật, đi theo giáo pháp của trường phái Sthavira (Thượng Tọa bộ)".[2]
  3. ^ Nghĩa Tịnh có đề cập đến tình hình ở Sri Lanka rằng "Ở Tích Lan, trường phái Thượng Tọa bộ được độc tôn; những người Đại Chúng bộ thì bị trục xuất"[3]
  4. ^ Nó được sử dụng trong các sách Đảo Sử (trích dẫn trong Lời dẫn giải tranh luận (Debates Commentary), Pali Text society, trang 4), mà thường thì thời gian ở thế kỷ IV.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “1”. 
  2. ^ Samuel Beal, "Si-Yu-Ki — Hồ sơ về đạo Phật của thế giới Tây Phương (Buddhist Records of the Western World&nbsp);— Dịch ra từ trước tác của Huyền Trang năm 629", do Tuebner và Co xuất bản, London (1884), in tại Tổng công ty nhà sách Phương Đông, New Delhi, (1983), Phiên bản kỹ thuật số: Viện Phật học Trung Hoa, Đài Bắc.
  3. ^ Samuel Beal, "Cuộc đời của Huyền Trang: bởi Shaman Hwui Li. Cùng với lời giới thiệu gồm có thông tin về tác phẩm của Nghĩa Tịnh", được xuất bản bởi Tuebner và Co, London (1911), Phiên bản kỹ thuật số: Trường Đại học Michigan.
  4. ^ Warder, A.K. Phật giáo Ấn Độ. 2000. tr. 280

Trang wed tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bullitt, John. “What is Theravāda Buddhism?”. BuddhaNet. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2010. 
  2. ^ Adherants.com - See the citations under 'Theravāda Buddhism — World'
  3. ^ http://203.113.86.149/stat/pk/pk53/pk_53.pdf
  4. ^ “CIA - The World Factbook”. Cia.gov. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  5. ^ a ă â b c GALLUP WorldView - data accessed on 2012-09-07
  6. ^ Retrieved 8 July 2010.
  7. ^ “CIA - The World Factbook”. Cia.gov. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  8. ^ a ă “CIA - The World Factbook”. Cia.gov. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  9. ^ a ă “CIA - The World Factbook”. Cia.gov. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chapman, David (2011), Theravāda reinvents meditation 
  • Dutt, Nalinaksha (1998), Buddhist Sects in India, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Private Limited 
  • Gombrich, Richard F. (1996), Theravāda Buddhism. A Social History from Ancient Benares to Modern Colombo, London and New York: Routledge 
  • Gomez, Luis O. (1991), Purifying Gold: The Metaphor of Effort and Intuition in Buddhist Thought and Practice. In: Peter N. Gregory (editor)(1991), Sudden and Gradual. Approaches to Enlightenment in Chinese Thought, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Private Limited 
  • Gunaratana, Henepola (1994), The Path of Serenity and Insight, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Private Limited 
  • Kalupahana, David J. (1994), A history of Buddhist philosophy, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Private Limited 
  • McMahan, David L. (2008), The Making of Buddhist Modernism, Oxford University Press, ISBN 9780195183276 
  • Tuchrello, William P. (Year unknown), The Society and Its Environment. (Religion: Historical Background section), Federal Research Division, Library of Congress 
  • Tiyavanich, K. (1997), Forest Recollections: Wandering Monks in Twentieth-Century Thailand, University of Hawaii Press 
  • Warder, A.K. (2000), Indian Buddhism, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

General

Thailand

Burma

Western

Practice

Critical