Phong thần diễn nghĩa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh họa Phong thần diễn nghĩa. Trái:Tỉ CanVăn Trọng; Phải: Trụ VươngĐát Kỷ

Phong thần diễn nghĩa (chữ Hán phồn thể: 封神演義; chữ Hán giản thể: 封神演义; pinyin: fēngshén yǎnyì), cũng gọi là Bảng phong thần, Vũ Vương phạt Trụ ngoại sử phong thần diễn nghĩa, Phong thần truyện, Thương Chu liệt quốc toàn truyện, là một tác phẩm văn học dạng tiểu thuyết thần quái viết bằng tiếng Trung vào thời nhà Minh, bao gồm 100 hồi.

Là một bộ tiểu thuyết được viết lại trên cơ sở cuốn Vũ Vương phạt Trụ bình thoại in đời Nguyên, rồi nhào nặn tư liệu lịch sử với thần thoại, truyền thuyết và tôn giáo mà thành, Phong thần diễn nghĩa xoay quanh việc suy vong của nhà Thương và sự nổi lên của nhà Chu, lồng vào đó là vô số thần thoại, truyền thuyết Trung Hoa, bao gồm các thần, tiên, yêu quái v.v. Trong chừng mực nào đó, Phong thần diễn nghĩa mô tả cuộc sống của người Trung Hoa đương thời, nơi tôn giáo có một vai trò lớn trong cuộc sống hàng ngày.

Tác giả[sửa | sửa mã nguồn]

Tác giả của Phong thần diễn nghĩa có thuyết nói là Hứa Trọng Lâm (許仲琳; 许仲琳), hiệu là Chung Sơn Dật Tẩu (mất 1566), người Phủ Ứng Thiên huyện Trực Lệ biên soạn. Thuyết khác lại cho rằng tác giả rất có thể là Lục Tây Tinh (陸西星; 陆西星), hiệu Trường Canh (mất 1601), người huyện Hưng Hóa, tỉnh Giang Tô viết[1].

Nội dung tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Phong thần diễn nghĩa khởi đầu với chuyện kể về vua Trụ nhà Thương đến miếu thờ Nữ Oa dâng hương, đã đề thơ với hàm ý hỗn xược khiến cho Nữ Oa nổi giận. Nữ Oa đã sai ba yêu quái ở mộ Hiên Viên mê hoặc vua Trụ nhằm làm cho nhà Thương sụp đổ. Một trong ba yêu quái là hồ ly tinh đã đạt hỏa hầu tu luyện ngàn năm, giết chết Đát Kỷ, một cô gái đẹp được tiến cung, rồi nhập vào xác nàng để ra mắt nhà vua. Được nhà vua sủng ái, Đát Kỷ giả dần dần lộng hành, trừ khử các bề tôi trung thực, giết hoàng hậu và toan giết cả hai hoàng tử. Bên cạnh đó, Đát Kỷ giả còn tìm cách hại 4 chư hầu lớn, xui vua Trụ vời họ vào chầu rồi bắt Tây Bá là Cơ Xương bỏ ngục.

Viên quan tổng binh ở cửa quan Trần Đường là Lý Tịnh sinh con trai tự xưng là Na Tra. Na Tra làm đồ đệ của Thái Ất Chân nhân, lên bảy tuổi đã đại náo biển Đông, rút gân chân thái tử con của Long Vương. Long Vương đến nhà Lý Tịnh đòi đền mạng. Na Tra tự nguyện chết để cha mẹ được sống. Người mẹ lập miếu thờ Na Tra nhưng ông bố (Lý Tịnh) lại bắt phá đi. Na Tra cầu cứu thầy đuổi đánh Lý Tịnh.

Khương Tử Nha là đồ đệ của Nguyên Thủy Thiên Tôn trên núi Côn Lôn, vâng lệnh thầy xuống núi giúp nhà Chu diệt nhà Thương. Tử Nha giết được một yêu quái, bạn của Đát Kỷ giả, và nhờ đó ông được vua Trụ phong chức Hạ Đại phu. Sau vì can Trụ xây Lộc Đài mà họ Khương suýt bị giết chết, phải trốn đến ấp Tây Kỳ thuộc đất nhà Chu. Bấy giờ Tây Bá Cơ Xương trốn thoát khỏi ngục đã tìm đến Khương Tử Nha nhờ giúp đỡ.

Trong một trận chiến, nhà Chu đã đánh bại quân của vua Trụ, nhưng vua Trụ không vì thế mà hối cải, vẫn tiếp tục ghẹo vợ của Hoàng Phi Hổ, khiến Phi Hổ tức giận. Phi Hổ đã vượt 5 cửa ải về với nhà Chu.

Với sự giúp sức của Giáo Chủ Thông Thiên, vua Trụ sai 36 lộ quân tiến đánh ấp Tây Kỳ. Trong trận chiến này, được hậu thuẫn của Xiển Giáo, nhà Chu đã đánh bại 36 lộ quân của vua Trụ. Tuy vậy, vua Trụ vẫn tiếp tục hoang dâm tàn bạo, không biết hối cải, và các nước chư hầu phải hợp lực tiến đánh. Trong trận chiến đối đầu khốc liệt cuối cùng này, quân của vua Trụ đã thất bại thảm hại, vua Trụ tự thiêu, Đát Kỷ giả cũng bị giết chết. Khương Tử Nha được Nguyên Thủy Thiên Tôn trao quyền phân phong các thần, còn Chu Vũ Vương (tức Cơ Phát, con Cơ Xương) cũng được quyền tấn phong các chư hầu.

Bảng phong thần[sửa | sửa mã nguồn]

Về Bảng phong thần có thể tóm tắt như sau: Đất Thần Châu triều đại Nhà Thương có 3 giáo phái cùng phát triển rực rỡ đó là: Xiển Giáo, Triệt Giáo, Đạo Giáo. Đứng đầu 3 giáo phái lần lượt là Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thông Thiên Giáo Chủ và Lão Tử. Câu chuyện được bắt đầu khi mười hai đệ tử của Nguyên Thủy Thiên Tôn đều là tiên phạm luật sát sinh nên phải bị đày xuống trần chịu khổ. Ngọc Hoàng Đại Đế truyền chỉ dụ cho hai giáo phái Xiển Giáo và Triệt Giáo đưa 365 giáo đồ phạm tội xuống trần lập công trạng sau này sẽ phong thần cho đủ số nhà trời. 12 đệ tử của Nguyên Thủy Thiên Tôn phải hạ giới phò nhà Chu diệt nhà Thương.

Trong bảng phong thần sẽ được chia làm 8 bộ: 4 bộ trên là Lôi, Hoả, Ôn, Đẩu. 4 bộ dưới là Thần Mưa, Thần Mây, Thần Núi, Thần Sao. Sau khi Trụ Vương mất nước, Vũ Vương ra đời thì dựa vào công tội của từng thần để phân ngôi cao thấp. Chính vì lẽ đó mà Khương Tử Nha - môn đồ của Nguyên Thể Thiên Tôn (Nguyên Thủy Thiên Tôn) được xuống trần gian phò Chu diệt Trụ. Tương truyền đài Phong Thần được Khương Tử Nha xây dựng vào đời Vũ Vương, do Bá Giám (Nguyên soái của Hoàng Đế Hiên Viên đi đánh giặc Xi Vưu, bị chết trận tại Đông Hải) đốc thúc, Ngũ Lôi Thần phụ trách xây dựng, đây là nơi các linh hồn 365 giáo đồ đã dứt nợ trần sẽ yên vị trước ngày được Nguyên Thể phong sắc thành thần.

Giá trị nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Phong thần diễn nghĩa dung nạp cả những tư liệu lịch sử và những hư cấu, truyền thuyết, tôn giáo nên yếu tố khoa trương rất đậm nét. Câu chuyện ca ngợi hành động chính nghĩa trừ ác cứu dân của Vũ Vương nhà Chu theo quan niệm: thiên hạ không phải chỉ một người, đồng thời tỏ rõ một số quan niệm dân chủ như: cha sai, vua sai thì con (Na Tra), bề tôi (Hoàng Phi Hổ) cũng có thể thảo phạt, chống lại. Lý tưởng chính trị vua sáng tôi hiền của tác giả cũng bộc lộ qua những chương hồi viết về Vũ Vương và Khương Tử Nha[1]. Tuy vậy, tiểu thuyết quy cuộc chiến đấu giữa chính-tà nói trên cho "mệnh trời", "khí số", người chết của cả hai phe đều được phong thần, lẫn lộn phải trái, khiến cho ý nghĩa tích cực của tác phẩm ít nhiều bị lu mờ. Tác phẩm đề ca vai trò của Đạo Giáo trên vai trò của đạo sĩ, binh tướng, thần tiên vận dụng âm dương, tướng số, kỳ môn độn giáp và cho là số phận con người đều do trời đất sắp đặt khiến giá trị tác phẩm ít nhiều lan man, hướng tới con người về số trời đã định hơn là tự thân vận động. Về nghệ thuật miêu tả, nhân vật trong Phong thần diễn nghĩa được đặc tả sinh động nhờ trí tưởng tượng phong phú, đậm nét lãng mạn, nên trở thành những cá tính lưu truyền rộng rãi trong dân gian.

Thông tin thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Phong thần diễn nghĩa từng được Lê Quý ĐônTrịnh Xuân Thụ trong đoàn sứ giả Việt Nam sang cống nhà Thanh năm 1762 chọn mua mang về nước, nhưng đến Quế Lâm thì bị giữ lại[1]. Đầu thế kỷ 20, tác phẩm này lần đầu tiên được Trần Phong Sắc dịch ra tiếng Việt. Sau có bản dịch của Mộng Bình Sơn, được tái bản nhiều lần.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Mục từ Phong thần diễn nghĩa, trên Từ điển văn học (bộ mới), NXB Thế giới, H. 2003, trang 1415-1416.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Từ điển văn học (bộ mới), NXB Thế giới, H. 2003, trang 1415-1416.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]