Providence (lớp tàu tuần dương)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Providence CLG-6.jpg
Tàu tuần dương Providence
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: lớp Providence
Bên sử dụng: Cờ của Hoa Kỳ Hải quân Hoa Kỳ
Lớp trước: lớp Galveston
Lớp sau: lớp Long Beach
Hoàn tất: 3
Nghỉ hưu: 3
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu tuần dương tên lửa điều khiển
Trọng tải choán nước: 15.025 tấn Anh (15.266 t)
Độ dài: 608 ft (185 m)
Sườn ngang: 64 ft (20 m)
Mớn nước: 23 ft 6 in (7,16 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số
4 × nồi hơi ống nước áp lực 634 psi
4 × trục
công suất 100.000 shp (75.000 kW)
Tốc độ: 32,5 hải lý một giờ (60,2 km/h; 37,4 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.120
Vũ trang:

Providence & Springfield:
3 × pháo 6 in (150 mm)/47 caliber (1×3);
2 × pháo đa dụng 5 in (130 mm)/38 caliber (1×2);
2 × bệ phóng tên lửa đất-đối-không RIM-2 Terrier (1×2)
Topeka:
6 × pháo 6 in (150 mm)/47 caliber (2×3);
6 × pháo đa dụng 5 in (130 mm)/38 caliber (3×2);

2 × bệ phóng tên lửa đất-đối-không RIM-2 Terrier (1×2)

Lớp tàu tuần dương Providence là một lớp tàu tuần dương tên lửa điều khiển hạng nhẹ (CLG) của Hải quân Hoa Kỳ. Nguyên được chế tạo như những tàu tuần dương hạng nhẹ thuộc lớp Cleveland trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, ba chiếc Providence, SpringfieldTopeka đã được xếp lại lớp vào năm 1957 và được trang bị hệ thống tên lửa đất-đối-không tầm xa Terrier. Trong quá trình tái trang bị kéo dài hai năm, phần cấu trúc thượng tầng phía sau được thay đổi toàn bộ, tháo dỡ tất cả các khẩu pháo phía đuôi dành chỗ cho hai dàn phóng tên lửa Terrier hai cần và một hầm đạn chứa 120 quả tên lửa. Ba cột ăn-ten lớn cũng được trang bị để mang một loạt các hệ thống radar, dẫn đường tên lửaliên lạc.

ProvidenceSpringfield cũng đồng thời được cải biến thành soái hạm của hạm đội, bao gồm việc tháo dỡ hai tháp pháo 5 inch (127 mm) nòng đôi và một tháp pháo 6 inch (152 mm) ba nòng phía trước, thay thế bằng một cấu trúc thượng tầng đóng mới toàn bộ và mở rộng ra phía trước. Trong cấu hình không phải là soái hạm, Topeka giữ lại dàn vũ khí tiêu chuẩn phía trước của lớp Cleveland: ba tháp pháo 5 inch (127 mm) nòng đôi và hai tháp pháo 6 inch (152 mm) ba nòng.

Một quá trình cải biến tương tương tự cũng được tiến hành trên ba chiếc khác cùng lớp ClevelandGalveston, Little RockOklahoma City trang bị hệ thống tên lửa đất-đối-không Talos, hình thành nên lớp tàu tuần dương Galveston. Little RockOklahoma City được trang bị như những soái hạm của hạm đội, nhưng Galveston thì không.

Giống như những chiếc thuộc lớp Galveston, lớp Providence mắc phải những vấn ̣đề nghiêm trọng về độ ổn định do trọng lượng bên trên quá nặng của hệ thống tên lửa. Thực ra, lớp Providence ít bị ảnh hưởng do tên lửa Terrier hơn những chiếc trang bị tên lửa hạng nặng Talos. Phải sử dụng đến các trọng lượng dằn nhằm cải thiện độ ổn định. Các con tàu còn chịu ảnh hưởng của sự uốn cong lườn tàu.

Cả ba chiếc trong lớp Providence đều được cho ngừng hoạt động và đưa về lực lượng dự bị giữa những năm 19691974. Khi các tàu chiến Hoa Kỳ được tái xếp lớp vào năm 1975, ProvidenceSpringfield được xếp lớp lại như những tàu tuần dương tên lửa (CG). Các con tàu được rút khỏi Đăng bạ Hải quân giữa những năm 19741980, rồi bị tháo dỡ sau đó.

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu Đặt lườn Hạ thủy Hoạt động Số phận
Providence (CLG-6) 27 tháng 7 năm 1943 28 tháng 12 năm 1944 tháng 9 năm 1959 Ngừng hoạt động tháng 8 năm 1973; bán để tháo dỡ 15 tháng 7 năm 1980
Springfield (CLG-7) 13 tháng 2 năm 1943 9 tháng 3 năm 1944 tháng 7 năm 1960 Ngừng hoạt động tháng 5 năm 1974; bán để tháo dỡ 15 tháng 5 năm 1980
Topeka (CLG-8) 21 tháng 4 năm 1943 19 tháng 8 năm 1944 tháng 3 năm 1959 Ngừng hoạt động tháng 6 năm 1969; bán để tháo dỡ 20 tháng 3 năm 1975


Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]