Quá trình gia nhập Liên Hợp Quốc của Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Liên Hợp Quốc được thành lập ngày 24 tháng 10 năm 1945 trên cơ sở Hội Quốc Liên trước đó. Việt nam bắt đầu nộp đơn xin gia nhập Liên Hợp Quốc và các Ủy ban đặc biệt của tổ chức này từ năm 1948.

Ủy Ban Kinh Tế Châu Á và Viễn Đông (ECAFE)[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh: Economic Commission For Asia And The Far East viết tắt là ECAFE. Được thành lập để hợp tác trao đổi ngành công nghiệp và thương mại giữa các nước trong vùng. Quốc Gia Việt NamViệt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng nộp đơn vào tháng 10 năm 1949.

Diễn biến: Nghị trình thứ 5 của Ủy ban diễn ra tại Singapore ngày 20-29 tháng 10 năm 1949.

Thành viên Pháp, Úc, CampuchiaVương quốc Anh ủng hộ đơn của chính phủ Quốc Gia Việt Nam là một chính phủ hợp pháp, được thành lập qua pháp lý quốc gia. Đại diện của Pháp và Vương quốc Anh chỉ ra rằng các điều khoản tham chiếu của ECAFE quy định nguyên đơn chỉ có thể được xem xét khi nó đại diện cho vùng lãnh thổ bởi một Chính phủ có các quan hệ quốc tế, theo họ, đúng với trường hợp Quốc Gia Việt Nam. Một nguyên đơn cũng có thể được xem xét khi đại diện bởi một quốc gia không phải là một thành viên Liên Hiệp Quốc, nhưng chịu trách nhiệm về quan hệ quốc tế của mình. Những điều kiện này không được đáp ứng trong trường hợp của "cái gọi là" Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, và họ đề nghị Ủy ban tuyên bố không chấp nhận đơn này.

Các đại diện của Liên Xô và Cộng hòa Inđônêxia ủng hộ đơn của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà là Chính phủ hợp pháp duy nhất của quốc gia. Đại diện Liên Xô phản bác các quan điểm của Vương quốc Anh và Úc, cho rằng cái lý "hiện tại không có quan hệ quốc tế" đối với VNDCCH là không đúng. Mặc dù một số đại diện đã bày tỏ quan điểm rằng các tiêu chí chung để quyết định sự độc lập của một quốc gia là một sự công nhận chung, và phải dựa vào những tiêu chuẩn khác như lãnh thổ và dân số dưới sự quản lý của một chính quyền và có một quân đội.

Thành viên Ấn độ ủng hộ cả hai lá đơn, cho rằng cả hai chính phủ trên thực tế đều nắm quyền kiểm soát kinh tế trong lãnh thổ mình.

Kết quả: Có 12 thành viên được quyền bỏ phiếu, đó là: Úc, Miến điện, Cộng hòa Trung hoa, Pháp, Ấn độ, Tân tây lan, Pakistan, Philippines, Vương quốc Thái lan, Vương quốc Anh, Hoa kỳ và Liên xô. QGVN được 8 phiếu thuận, 1 phiếu chống, 3 phiếu trắng, được kết nạp thành viên liên kết của ECAFE. VNDHCH được 2 phiếu thuận, 7 phiếu chống và 3 phiếu trắng và bị loại.[1]

Tổ chức Lao Động Quốc Tế (ILO)[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh: International Labor Organisation gọi tắt là ILO. Văn phòng chính đặt tại Geneva, Thụy sĩ. Tổ chức được thành lập ngày 11/04/1919 tại Hội Quốc Liên, mục đích để cải thiện điều kiện làm việc và bảo vệ lợi ích của người lao động trên thế giới.

Quốc Gia Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập cuối năm 1949 và được kết nạp vào tháng 6 năm 1950. [2]

Trong năm 1950 tổ chức này có 62 thành viên. Lệ phí thành viên của QGVN là 18.658,52 USD, chiếm 0.30% quỹ hoạt động của tổ chức này.

Tổ chức Lương Nông Quốc tế (FAO)[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh: Food and Agriculture Organization gọi tắt là FAO. Tổ chức này được thành lập ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc nhằm xóa đói và ổn định ngành nông nghiệp thế giới. Ngày 14 tháng 12 năm 1946, FAO chính thức trở thành một cơ quan đặc biệt của Liên Hợp Quốc, trông coi về ngành thực phẩm, nông nghiệp, ngư nghiệp và khai thác rừng trên thế giới.

Quốc Gia Việt Nam được kết nạp vào cuối năm 1950.[3]

Trong năm 1950 tổ chức này có 67 thành viên. Lệ phí thành viên của QGVN là 16.000 USD, chiếm 0.32% quỹ hoạt động của tổ chức này.

Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO)[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh: World Health Organization gọi tắt là WHO. Được thành lập ngày 22 tháng 7 năm 1946 và chính thức trở thành một cơ quan của Liên Hợp Quốc ngày 7 tháng 4 năm 1948. Trong năm 1948 WHO tập trung vào công tác phòng chống bệnh sốt rét, ho lao và bệnh hoa liễu.

Quốc Gia Việt Nam được kết nạp vào năm 1950.[4]. Đến cuối năm 1950, chương trình phòng chống bệnh sốt rét đã được triển khai trên lãnh thổ QGVN.

Trong năm 1950 tổ chức này có 74 thành viên. Lệ phí thành viên của QGVN là 14.795 USD, chiếm 25 trong tổng số 12.111 đơn vị quỹ hoạt động của tổ chức này.

Liên đoàn Viễn Thông Quốc Tế (ITU)[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh: International Telecommunication Union gọi tắt là ITU. Mục đích để các nước hợp tác với nhau triển khai và phát triển các chuẩn trong thông tin liên lạc.

Quốc Gia Việt Nam được kết nạp vào ngày 1 tháng 9 năm 1951 với số phiếu thuận quá 2/3.[5]. Trong năm này, QGVN đã tham gia biểu quyết về tiêu chuẩn hệ truyền hình trắng đen CCIR với 4 chuẩn 405, 525, 625 và 819 dòng. Đồng thời cũng biểu quyết về các tần số dùng trong dịch vụ điện thoại di động ngành hàng hải và dịch vụ điện thoại di động ngành hàng không.

Trong năm 1951 tổ chức này có 72 thành viên. Thành viên của QGVN đóng góp 3 đơn vị thuộc hạng 7 trên tổng số 766 đơn vị quỹ hoạt động của tổ chức này.

Liên đoàn Bưu Chính Phổ Thông (UPU)[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh: Universal Postal Union gọi tắt là UPU. Mục đích để các nước hợp tác với nhau về trao đổi thư từ bưu chính.

Quốc Gia Việt Nam được kết nạp vào năm 1951.[6]

Trong năm 1951 tổ chức này có 92 thành viên. Thành viên của QGVN đóng góp 3 đơn vị thuộc hạng 6 cho quỹ hoạt động của tổ chức này.

Tổ chức Giáo Dục Khoa Học và Văn Hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO)[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh: United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization gọi tắt là UNESCO. Mục đích để xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí, ý thức về quyền con người, tự do thông tin, phát triển khoa học, ngăn chặn chiến tranh bằng biện pháp giáo dục, giữ gìn văn hóa, cổ vũ sự thật, tự do và hòa bình, cổ vũ sự hợp tác và hiểu biết giữa con người với nhau, phục vụ công tác xây dựng và cứu trợ trên thế giới.

Quốc Gia Việt Nam nộp đơn đầu năm 1951 (E/1883).

Diễn biến: Đơn được duyệt ngày 14 tháng 3 năm 1951 tại cuộc họp lần thứ 468 của Hội đồng khoáng đại, đa số các nước thành viên coi QGVN là nước có nền ngoại giao độc lập, và đã có chân trong các tổ chức khác của LHQ. Riêng thành viên Tiệp khắc, Ba lanLiên xô cho rằng nước này không phải là một quốc gia độc lập. Thành viên Philippines nói rằng vì họ có vấn đề về sự công nhận nước nguyên đơn nên không thể ủng hộ được.

Kết quả: QGVN được 13 phiếu thuận, 3 phiếu chống và 2 phiếu trắng, được kết nạp vào năm 1951 bởi nghị quyết 364(XII) của hội đồng khoáng đại[7].

Trong năm 1951 tổ chức này có 64 thành viên. Thành viên của QGVN đóng góp 0.11% quỹ hoạt động của tổ chức này (tổng cộng 8.718.000 USD trong năm 1952).

Đại hội đồng Liên Hợp Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 18 tháng 5 năm 1951, Đại hội đồng ra nghị quyết 500(V) để ngăn chặn xung đột trên bán đảo Triều Tiên, nghị quyết kêu gọi các nước dựng hàng rào cấm vận CHND Trung Hoa và Bắc Triều Tiên về vũ khí đạn dược, dầu hỏa, hàng chiến lược, nhằm tạo điều kiện ngưng bắn bằng các biện pháp không bạo lực. Để thi hành nghị quyết này, QGVN, lúc này chưa là thành viên, đã trả lời trong văn bản A/1841 rằng: Chính phủ Việt nam ủng hộ nghị quyết này và đã quyết định không xuất cảng cao su và gạo sang các nước trên.[8].

Quốc Gia Việt Nam nộp đơn xin gia nhập ngày 17 tháng 12 năm 1951 (S/2446). Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nộp đơn ngày 27 tháng 12 năm 1951 (S/2466). Đơn được đem ra đề cử trong cuộc họp lần thứ 594 ngày 2 tháng 9 năm 1952 nhưng không được sự đồng thuận, đến cuộc họp lần thứ 598-599 ngày 10-12 tháng 9, đơn được đề cử lại, Pháp đề cử Quốc Gia Việt Nam (S/2758), Liên Xô đề cử Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (S/2773).

Diễn biến: Thành viên Pháp, được sự ủng hộ của Hy lạp, Hòa lan, Vương Quốc AnhHoa kỳ, nhấn mạnh rằng QGVN là quốc gia độc lập, tự do và có quyền tự quyết trong khối Liên Hiệp Pháp. Các thành viên này ủng hộ đơn xin gia nhập thành viên chính thức của quốc gia này.

Thành viên Liên Xô cho rằng đơn này do chính phủ bù nhìn do Pháp lập ra và được sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ vì vậy chỉ có quốc gia độc lập tự do là VNDCCH mới được xem xét, và là chính phủ hợp pháp duy nhất của Viêt nam.

Thành viên Pháp cho rằng không cần phải xem xét đơn của VNDCCH vì nó là một thực thể chính trị thiếu hoàn toàn phẩm chất và tính chất của một chính phủ và chỉ là một lực lượng bên lề. Cộng hòa Trung hoa, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ ủng hộ quan điểm này.

Thành viên Liên Xô nói rằng cuộc chiến tranh đang xảy ra ở Đông dương đang chứng tỏ sự tồn tại của VNDCCH là rõ ràng.

Kết quả: Tại cuộc họp lần 603 ngày 19/09/1952, đơn của QGVN được biểu quyết với kết quả 10 phiếu thuận và 1 phiếu chống. Vì phiếu chống của Liên Xô là một thành viên thường trực hội đồng bảo an nên đơn của QGVN bị loại. Đơn của VNDCCH được 1 phiếu thuận và 10 phiếu chống và cũng bị loại.[9].

Vì đơn của QGVN có số phiếu hơn 2/3 nhưng bị phủ quyết nên Đại hội đồng đã ra nghị quyết 620 C (VII), có nội dung như sau:[10].

Đại hội đồng,

Cần lưu ý rằng, ngày 19 tháng 9 năm 1952, mười thành viên của Hội đồng Bảo an ủng hộ một nghị quyết dự thảo giới thiệu kết nạp Quốc Gia Việt Nam tại Liên Hợp Quốc, nhưng đề nghị không được đưa lên Đại hội đồng vì sự chống đối của một thành viên thường trực, xét thấy nó quan trọng cho sự phát triển của Liên Hợp Quốc rằng tất cả các quốc gia nộp đơn thỏa mãn các quy định tại Điều 4 của Điều lệ phải được thừa nhận, "

"1. Xác định rằng Quốc Gia Việt Nam là một quốc gia yêu chuộng hoà bình đúng theo Điều 4 của Điều lệ, có khả năng và sẵn sàng thực hiện các nghĩa vụ của mình, và do đó phải được nhận làm thành viên trong Liên Hiệp Quốc;

"2. Đề nghị Hội đồng Bảo an LHQ lưu ý sự khẳng định này của Đại hội đồng đối với đơn của Quốc Gia Việt Nam."

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://unyearbook.un.org/1948-49YUN/1948-49_P1_CH4.pdf Yearbook of the United Nations 1948-49, tr 509-510
  2. ^ http://unyearbook.un.org/1950YUN/1950_P2_CH1.pdf Yearbook of United Nations 1950, tr.980
  3. ^ http://unyearbook.un.org/1950YUN/1950_P2_CH2.pdf Yearbook of United Nations 1950, tr.902
  4. ^ http://unyearbook.un.org/1950YUN/1950_P2_CH5.pdf Yearbook of United Nations 1950, tr.934
  5. ^ http://unyearbook.un.org/1951YUN/1951_P2_J.pdf Yearbook of United Nations 1951, tr.945
  6. ^ http://unyearbook.un.org/1951YUN/1951_P2_H.pdf Yearbook of United Nations 1951, tr.934
  7. ^ http://unyearbook.un.org/1951YUN/1951_P1_CH4.pdf Yearbook of United Nations 1951, tr.588-589
  8. ^ http://unyearbook.un.org/1951YUN/1951_P1_CH3.pdf Yearbook of United Nations 1951, tr.228-229
  9. ^ http://unyearbook.un.org/1952YUN/1952_P1_CH2.pdf Yearbook of United Nations 1952, tr.332-336
  10. ^ http://unyearbook.un.org/1952YUN/1952_P1_CH2.pdf Yearbook of United Nations 1952, tr.344-345