Quân Cờ Đen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quân Cờ Đen
Black Flag ambush.jpg
Quân Cờ Đen tổ chức phục kích
Hoạt động 1865–1885
Quốc gia Trung Quốc, Việt Nam
Chức năng đảng giặc cướp, sau chiến đấu chống lại quân viễn chinh Pháp
Quy mô lúc mạnh nhất lên tới 3.000 trong chiến tranh Pháp-Thanh
Tham chiến
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Lưu Vĩnh Phúc

Quân Cờ Đen (, Hán Việt: Hắc Kỳ quân) là một nhóm đảng cướp có quân số đa số xuất thân từ quân đội người Tráng, di chuyển từ vùng Quảng Tây của Trung Quốc băng qua biên giới vào hoạt động ở miền núi phía Bắc Kỳ thuộc triều đình Huế vào năm 1865, được biết đến nhiều chủ yếu do những trận đánh với lực lượng Pháp theo như thỏa hiệp với cả triều đình Việt Nam và Trung Quốc. Đội quân này mang tên Cờ Đen là do thủ lĩnh của họ, Lưu Vĩnh Phúc, ra lệnh dùng cờ hiệu màu đen.

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1857, Lưu Vĩnh Phúc xin làm thuộc hạ của Ngô Lăng Vân, người tự xưng là Ngô Vương, và là dư đảng Thái Bình Thiên quốc, bản doanh đóng gần Nam Ninh, Quảng Tây (Trung Quốc). Lưu được Ngô Lăng Vân trợ giúp rồi sau đã trở thành một nhân vật quyền thế dưới trướng của Ngô Vương. Khi Ngô Lăng Vân bị giết (1863), Lưu đem bộ hạ theo Vương Sĩ Lâm và Hoàng Tư Nùng ở châu Thượng Tư (Quảng Tây) cướp phá ở nhiều nơi, sau mới gia nhập lại với Ngô Côn, con trai và là người kế nghiệp Ngô Vương. Là một người có nhiều tham vọng, cộng thêm hoàn cảnh thiếu thốn, Lưu xin với Ngô Á Chung (tức Ngô Côn) đem quân vượt biên giới sang cướp bóc bên Đại Nam. Cuộc quân hành này cũng tránh được quan quân nhà Thanh đang càn quét, tái lập quyền kiểm soát vùng Lưỡng Quảng. Với 200 đồng đảng thân tín, trương một lá cờ màu đen làm kỳ hiệu, Lưu Vĩnh Phúc vượt biên giới vào Đại Nam năm 1865.

Lưu vừa đi vừa tuyển thêm quân từ các toán thổ phỉ khác mà không bị ai chặn lại hay ngăn trở gì. Đến gần Sơn Tây, quân Cờ Đen khi đó đã lên tới 500 người dừng lại lập doanh trại. Sự hiện diện của một đội quân vũ trang trong lãnh thổ của các bộ tộc Mông miền núi là một sự đe dọa với họ, nên xung đột vũ trang đã nổ ra. Quân Cờ Đen phục kích và đánh bại cuộc tấn công của thổ dân, đồng thời giết chết một thủ lĩnh của họ[1]. Viên thủ lĩnh này chống đối chính quyền nhà Nguyễn, nên nhân cơ hội đó nhà Nguyễn chính thức ban cho Lưu chức vị Cửu phẩm bách hộ để tiếp tục công việc bình định vùng này.

Tuy vậy, đánh nhau với người thiểu số không phải là mối quan tâm chính của Lưu, nên năm 1868, Lưu quay ra tranh giành khu vực thị trấn Lào Cai, tức châu Bảo Thắng, một món mồi béo bở, lúc bấy giờ đang nằm dưới sự kiểm soát của các thương gia có vũ trang người Quảng Đông. Quân Cờ Đen tự tiện thu thuế, khai khoáng, cướp bóc khắp nơi, quan quân nhà Nguyễn cũng không ngăn cản được. Quân Cờ Đen còn thiết lập một hệ thống bảo kê, đánh thuế 10% cho các hoạt động thương mại đường thủy dọc sông Hồng. Nguồn lợi từ các hoạt động này lớn tới mức quân Cờ đen nhanh chóng gia tăng lực lượng, với cả một số sĩ quan là các lính đánh thuê châu Âu hay Mỹ, và Lưu sử dụng kinh nghiệm của số người này để biến lực lượng của mình thành một đạo quân đáng gờm.:[2]

Giải tán[sửa | sửa mã nguồn]

Theo một trong các điều kiện hòa ước giữa Pháp và Thanh để chấm dứt cuộc chiến tranh Pháp-Thanh, Lưu Vĩnh Phúc phải rời Bắc Kỳ. Tới giai đoạn cuối cuộc chiến này, quân Cờ Đen chỉ còn khoảng 2.000 người, và không có khả năng chống lại Đường Cảnh Tùng và các chỉ huy quân Vân Nam khác. Lưu về lại Trung Quốc với một số thuộc hạ thân tín, bỏ lại phần lớn quân Cờ Đen giải tán ngay tại Bắc Kỳ trong mùa hè năm 1885. Không được trả lương trong vòng mấy tháng, và có sẵn vũ khí, số quân này quay lại làm giặc cướp, đội danh quân Cần Vương kháng Pháp. Người Pháp phải mất hàng tháng để đánh dẹp các nhóm này, và đường từ Hưng Hóa cho tới Lào Cai phải tới tháng 2 năm 1886 mới an toàn trở lại.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Đương thời, quân Cờ Đen tuy có công gây tổn thương cho lực lượng viễn chính của Pháp đang xâm chiếm Đông Dương, nhưng chính quân Cờ Đen cũng gây nhiều ta thán, tàn hại thường dân. Một võ tướng bấy giờ là Ông Ích Khiêm không đồng tình khi triều đình Huế mượn sức quân Cờ Đen chống chọi với Pháp. Ông cũng chê trách các quan Việt bất tài, nên khi hữu sự phải nhờ vào người Tàu để đánh giặc. Ông có làm bài thơ trách cứ tinh thần ỷ lại của các quan trong triều:[3]

Áo chúa cơm vua hưởng bấy lâu
Đến khi có giặc phải thuê Tàu
Từng phen võng giá mau chân nhẩy
Ðến buớc chông gai thấy mặt đâu
Tiền bạc quyên hoài dân xác mướp
Trâu dê ngày hiến đứa răng bầu
Ai ôi hãy chống trời Nam lại
Kẻo nửa dân ta phải cạo đầu[4]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đây có lẽ là cuộc xung đột với quân Bạch Miêu, tức quân Cờ Trắng của Bàn Văn Nhị và Lương Văn Lợi, chiếm cứ vùng Lục Yên (Tuyên Quang)
  2. ^ Trần Huy Liệu (1962). Nghiên cứu Lịch sử [Journal of Historical Studies]. 
  3. ^ Sách Hương Giang cố sự, truyện Ông Ích Khiêm
  4. ^ Cạo đầu như phong tục của người Mãn Thanh

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]