Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Người lính Quân Giải phóng đứng dưới cờ của Mặt trận

Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam, gọi tắt là Giải phóng quân hoặc Quân Giải phóng, theo định nghĩa hiện nay của Nhà nước và định nghĩa ngầm không công khai với đối phương khi đó (theo quyết định của Tổng quân ủy) là bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam chiến đấu trên chiến trường miền Nam Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam. Quân đội này được thành lập theo quyết định của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Quân ủy Trung ương Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tại Hội nghị quân sự ở Chiến khu Đ ngày 15.2.1961, quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang ở miền Nam Việt Nam thành Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam [1]. Đây là lực lượng vũ trang trong thành phần của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1960-1976) và của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969-1976), công khai do Đảng Nhân dân cách mạng chỉ đạo.

Mục lục

Tổ chức[sửa]

Quân Giải phóng miền Nam chịu sự chỉ đạo của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam, Quân ủy Trung ương Quân đội Nhân dân Việt Nam[2], Trung ương Cục miền Nam, Bộ Tổng tư lệnh, Quân ủy Miền, Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, Khu ủy Trị Thiên, Khu ủy khu V và Bộ tư lệnh các khu: Trị Thiên, V, VI, VII, VIII, IX.

Các tài liệu của Mỹphương Tây thường dùng "Quân giải phóng miền Nam" để chỉ lực lượng vũ trang được tuyển mộ tại miền Nam Việt Nam để phân biệt với Quân đội Nhân dân Việt Nam mà họ thường gọi là "Quân đội Bắc Việt". Họ mô tả một cách nhầm lẫn đây là hai lực lượng có chỉ huy, lực lượng và đường lối riêng, với quan hệ đồng minh tương trợ [cần dẫn nguồn]. Phần lớn các tài liệu của Mỹ và những người thuộc chế độ Sài Gòn cũ hiện nay vẫn phân biệt một cách rạch ròi quân đội cách mạng ở miền Nam trong chiến tranh gồm "Quân đội nhân dân Việt Nam" (họ gọi là "Quân đội Bắc Việt Nam") và "Quân giải phóng Miền Nam" (bị gọi là "Quân Việt Cộng"), bao gồm cả việc phân chia lãnh đạo quân đội ở miền nam. Cũng có tài liệu gọi Quân giải phóng là lực lượng thuộc địa bàn B2.

Cách gọi này xuất phát từ nhiều lý do, thứ nhất nhằm sử dụng vấn đề vùng miền để tuyên truyền gây tác động tâm lý với người miền Nam, và với thế giới bên ngoài, chia rẽ nội bộ những người cách mạng đấu tranh chống Mỹ và chế độ Sài Gòn tiến tới thống nhất đất nước. Họ thường gọi quân giải phóng miền nam là quân đội Việt cộng (theo nghĩa "quân phiến loạn"), và tách với Quân đội nhân dân là quân Bắc Việt (mà họ cho là "quân xâm lược"). Cách chia này còn nhằm mục đích phân loại đối tượng, chiêu hồi các lực lượng tại chỗ của miền Nam. Ngoài ra do quân từ ngoài Bắc vào khác các lực lượng tuyển mộ tại miền Nam là quân chính quy được đào tạo bài bản và thường trang bị vũ khí hạng nặng hơn, do đó phân biệt để có hướng hoạch định tác chiến phù hợp. Ngoài ra do Miền Bắc luôn luôn khẳng định Quân giải phóng Miền Nam là lực lượng của Mặt trận, quân ngoài Bắc vào là quân của Mặt trận (chi viện cho Mặt trận, thuộc Mặt trận) nhưng có đặc thù riêng, và đo đó phía đối phương thường không xác định được rõ ràng về cơ chế quản lý và lãnh đạo, nhất là sự lãnh đạo thực tế mang tính chất bí mật. Trong lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam có rất nhiều chiến sĩ và chỉ huy người miền Nam, và không hề có sự phân biệt vùng miền nào xét về thực tế trong tổ chức; ngược lại tất cả binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam khi đã hành quân qua vĩ tuyến 17 đều sẽ được gọi là Quân Giải phóng miền Nam. Về tổ chức và lãnh đạo "bên ngoài" có sự khác biệt để thể hiện lập trường do Mặt trận dân tộc giải phóng đề ra trong cương lĩnh của họ - nhằm thể hiện sự "độc lập" của họ.

Tóm lại trong thời gian chiến tranh, phía đối phương luôn cho là Miền Bắc xâm lăng, và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khẳng định Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam là tổ chức độc lập với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về mặt tổ chức, chính sách, và lãnh thổ. Do đó quân giải phóng miền nam là quân của Mặt trận (bao gồm cả lực lượng ngoài bắc vào chi viện), sử dụng cờ, phù hiệu,... riêng, khác với miền bắc, và về hình thức cả quân ngoài bắc vào lẫn tuyển mộ tại chỗ đều do Mặt trận và Đảng Nhân dân cách mạng lãnh đạo, nhưng thực tế do Đảng Cộng sản lãnh đạo từ phái trên có tính bí mật. Như vậy quân đội nhân dân và quân giải phóng là hai đội quân khác nhau về hình thức, nhưng bản chất là một do có chung một ban lãnh đạo. Định nghĩa của nhà nước hiện nay là xét về thực tế, còn trong chiến tranh thì do hoàn cảnh nên vẫn phải phân làm hai (là hai nhưng thực chất hiểu ngầm là một). Còn định nghĩa theo kiểu đối phương là sai hoàn toàn, dó họ có mục đích chia rẽ, hoặc do họ không thực sự hiểu (có khi mắc bẫy đối phương). Trong Quân giải phóng, về thực tế, có nhiều đơn vị có cả bắc lẫn nam. Cách hiểu máy móc quân miền bắc là quân chủ lực , hay quân trong nam là quân du kích cũng là không đúng, vì lực lượng quân giải phóng luôn chia làm quân chủ lực , địa phương, và dân quân du kích, không tính đến các yếu tố nguồn gốc ở đâu. Các quyết định của tổ chức đảng với quân giải phóng đều là bí mật, vì họ ngại mang tiếng "miền Bắc xâm lược", và muốn tạo hình thức bên ngoài Mặt trận có tính "rộng rãi" hơn là thuần túy cộng sản, còn công khai là của bên Mặt trận và các Bộ tư lệnh, về hình thức thuộc Mặt trận.

Hoạt động[sửa]

Một số vũ khí của quân Giải phóng miền Nam Việt Nam

Mục đích của Măt trận Dân tộc Giải phóng ban đầu là thành lập Quân giải phóng Miền Nam - lực lượng của Mặt trận - nhằm tạo một vị thế độc lập với quân đội nhân dân Việt Nam ở miền Bắc của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (chủ trương của Bộ Chính trị nhưng công khai là Mặt trận). Các lực lượng Quân đội nhân dân hành quân qua vĩ tuyến 17 sẽ được xem là thuộc Quân giải phóng miền nam (khác trang phục, mũ hoặc huy hiệu trên mũ và lá cờ - là lực lượng của Mặt trận, phân biệt với quân ngoài Bắc) và được xem là hành động ủng hộ, hỗ trợ, giúp đỡ, chi viện cho miền Nam chống đế quốc Mỹ. Việc phân chia này không phải để chia tách lực lượng, mà nhằm tránh tạo cho Hoa Kỳ cái cớ để leo thang, đổ quân trực tiếp vào miền Nam.

Quân trang của một lính du kích ở miền Nam

Trên thực tế thì suốt cuộc Chiến tranh Việt Nam, các lực lượng quân giải phóng ở miền Nam ăn mặc không giống nhau và hay thay đổi tùy tình hình. Các lực lượng thường được phiên chế thành các lực lượng chịu sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền nam và Trung ương Cục miền Nam gồm các chỉ huy tại miền Nam, chịu trách nhiệm lãnh đạo thống nhất các chỉ thị từ cấp cao hơn là Quân ủy Trung ương đóng tại ngoài Bắc.

Sự phân biệt lực lượng vũ trang cách mạng ở miền nam gồm Quân đội nhân dân là "Quân đội bắc Việt Nam" với quân đội giải phóng là "quân Việt cộng" (miền nam) về bản chất là phiến diện, vì như đã nói ở trên, có những lực lượng quân địa phương miền Nam (Mỹ gọi là quân Việt Cộng) có người miền bắc và ngược lại, các lực lượng chính quy (Mỹ thường quy là "quân miền bắc") cũng có người miền nam (phần lớn là gửi ra Bắc huấn luyện sau đó lại vào nam chiến đấu). Trong chiến tranh thì các đơn vị quân đội luôn phiên chế khác nhau, khi sáp nhập, khi chia tách, hay bổ sung.

Trong thời gian chiến tranh, Mỹ và Việt Nam cộng hòa biết là chính xác đối phương đều là do Đảng Lao động Việt Nam chỉ đạo, nhưng thường là tỏ ra không biết để nhằm tuyên truyền gây chia rẽ. Sự không công khai chỉ đạo của Đảng (Bộ Chính trị ngoài Bắc và Trung ương Cục) của bên giải phóng và coi như không biết, luôn tỏ ra Mặt trận và miền Bắc "độc lập" của phía Mỹ và VNCH đều là những thủ thuật chính trị của hai bên. Một bên luôn không muốn bị đối phương xuyên tạc "xâm lược miền nam" để tạo Mặt trận một vị thế độc lập, một bên tuy biết thực chất là một (lãnh đạo chung, mục tiêu chung) nhưng cố tình không chỉ rõ để gây chia rẽ đội ngũ lãnh đạo bên cách mạng.

Tại miền Nam, các đảng viên cộng sản hoạt động trên danh nghĩa là đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng (nhưng thực tế là một bộ phận của Đảng Lao động). Quân khu V có thời gian được xem là biệt lập với Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang miền nam, và Khu ủy khu V không thuộc trung ương Cục, trong khi khu Trị Thiên do ngoài Bắc chỉ đạo trực tiếp. Tuy nhiên luôn có thay đổi liên tục cơ chế lãnh đạo trong thời gian chiến tranh.

Cũng giống như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận và Chính phủ cách mạng lâm thời, về thực tế tuy là hai nhưng lại là một, do chịu sự chỉ đạo thống nhất của Đảng Lao động nên không có một lập trường nào riêng rẽ. Tuy nhiên về công khai, thì vẫn là hai sự khác biệt, với những tuyên ngôn khác nhau mang tính sách lược.

Nói chính xác thì chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận và Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam trên danh nghĩa là hai chính quyền của hai chính thể khác nhau, độc lập với nhau, có "quân đội riêng", nhưng cùng chịu sự chỉ đạo chung của Đảng Lao động Việt Nam. Trong hoàn cảnh chiến tranh, thì sự chỉ đạo của Đảng ở miền Nam (qua Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Trung ương Cục,v.v.) là không công khai.

Quân trang của một người lính thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam

Về phía Mỹ và VNCH, một mặt lúc họ luôn gọi Mặt trận là cộng sản (Việt Cộng), lúc thì họ lại không hẳn coi như vậy. Bên phía Mặt trận thì không thừa nhận mình là cộng sản (thực tế tham gia Mặt trận thì không chỉ có những người cộng sản) và sự chỉ đạo của Đảng là bí mật, nhưng luôn khẳng định có chung lập trường đấu tranh chống ngoại xâm và thống nhất nước nhà với VNDCCH.

Sự công khai về sự lãnh đạo của Đảng sau này (hay những gì Mỹ họ biết trong thời gian chiến tranh) đều được phía Mỹ xem là "Miền Bắc" (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) can thiệp vào công việc nội bộ của "Miền Nam"... nhưng về phía Nhà nước Việt Nam thống nhất, thì xem đây là sự lãnh đạo của Đảng (không phải của riêng miền Bắc, cũng không phải riêng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) đối với cách mạng miền Nam và cả nước. Đối với những người ủng hộ cho đấu tranh giải phóng dân tộc thì hoàn toàn không có sự nhận thức Đảng Lao động là của riêng miền Bắc, cũng như giai đoạn trước 1954, thì Đảng đấu tranh chống Pháp cho toàn Đông Dương và Việt Nam. Điều này là hoàn toàn đúng, vì thực tế Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng nhưng thể chế hóa là thuộc về các cơ quan nhà nước (hay thời chiến tranh miền Nam là Mặt trận và Chính phủ Cách mạng Lâm thời).

Theo các tài liệu của Mỹ thì họ thường chia từ 1968 trở về trước lực lượng tham chiến chủ yếu là "Quân đội giải phóng", còn sau 1968 đến 1975 thì lực lượng tham chiến chủ yếu là "Quân đội nhân dân". Có sự phân chia này bởi sau 1968, Quân đội nhân dân Việt Nam chuyển từ đánh du kích là chủ yếu sang đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn bằng quân chủ lực. Sự phân chia này đối với Việt Nam chỉ mang tính đặc trưng cho chiến thuật sử dụng, còn bản chất lực lượng quân đội vẫn như trước. Thực tế thì sau Mậu Thân, các lực lượng tại chỗ bị tổn thất khá nặng, các lực lượng tuyển mộ tại chỗ biên chế về các lực lượng địa phương hay du kích để bổ sung khá đông, trong khi yêu cầu chiến tranh đòi hỏi các lực lượng được đào tạo bài bản hơn nên quân chủ lực phần lớn từ ngoài Bắc vào. Càng về cuối chiến tranh Miền Bắc càng công khai vai trò trong chiến tranh trên danh nghĩa giúp Mặt trận. Việc tách khu V về Trung ương và sau phân khu Trị - Thiên tách khỏi khu V về TW điều khiển trực tiếp cho thấy rõ điều này. Sau Hiệp định Paris, Trung ương Cục hoạt động công khai hơn.

Tháng 1 năm 1961, Tổng Quân ủy ra chỉ thị thành lập Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam, một bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam để chiến đấu trên chiến trường miền Nam Việt Nam[3].

Thực hiện quyết định của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, ngày 15 tháng 2 năm 1961, tại Hội nghị quân sự tại Chiến khu Đ, Quân Giải phóng miền Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang ở miền Nam Việt Nam. Thực chất, đây là lực lượng Vệ Quốc Đoàn còn ở lại miền Nam Việt Nam và lực lượng chiêu mộ tại chỗ, kết hợp với những người miền Nam tập kết ra Bắc bí mật quay lại miền Nam từ năm 1959, về sau được tăng cường thêm các binh sĩ từ miền Bắc vào [cần dẫn nguồn].

Ngày 2 tháng 9 năm 1961, Trung đoàn 1 bộ binh (lúc mới thành lập mang bí số C.56, sau đổi là Q. 761) được thành lập tại căn cứ Dương Minh Châu (miền Đông Nam Bộ). Đây là đơn vị chủ lực cơ động cấp trung đoàn đầu tiên của Quân Giải phóng miền Nam.

Tính đến cuối năm 1961, bộ đội địa phương tỉnh, huyện và bộ đội chủ lực khu có 24.500 người; du kích, tự vệ có 100.000 người (70.000 người ở Nam Bộ, 30.000 người ở khu V). Bộ đội chủ lực thuộc các quân khu có 11 tiểu đoàn. Các tướng lĩnh chỉ huy Quân Giải phóng: Trần Văn Trà, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, Nguyễn Thị Định...

Năm 1963, bộ đội địa phương tỉnh đã tăng lên gấp đôi so với năm 1962, (64.000 quân so với 30.500 quân).

Từ năm 1964, lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Bắc được đưa nhiều vào miền Nam, tăng cường lực lượng cho Quân Giải phóng miền Nam. Năm 1964, Quân đội nhân dân Việt Nam từ ngoài Bắc vào có 10.000, đến cuối năm 1973, chỉ tính quân chính quy Quân đội nhân dân là 100.000, và đến tháng 12 năm 1974 quân chính quy Quân đội nhân dân ở miền nam lên tới 200.000. Các lực lượng quân chính quy Quân giải phóng miền Nam đến tháng 12 năm 1974 là hơn 90.000 quân[4].

Tương quan lực lượng (theo báo cáo tại Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tháng 1 năm 1968):

  • 1959 - 1960, khi mới bắt đầu khởi nghĩa, quân địch 7, ta 1 (lúc đó chưa có quân viễn chinh Mỹ);
  • 1960: quân Diệm 10, ta 1;
  • 1961: địch 7, ta 1;
  • 1962 - 1963: địch 5, ta 1;
  • 1965 cho đến 1968: Mỹ vào nửa triệu quân nữa, tất cả, đến bây giờ, địch 3, ta 1."

Năm 1976 Quân Giải phóng miền Nam được thống nhất hình thức với quân đội Nhân dân Việt Nam, lấy tên chung là Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam (Bộ chỉ huy Miền) "là cơ quan tiền phương" của Bộ Tổng tư lệnh, gồm Tư lệnh, phó tư lệnh, chính ủy và phó chính ủy, tham mưu trưởng, phó tham mưu trưởng, chủ nhiệm chính trị, chủ nhiệm hậu cần, trực tiếp chỉ đạo quân sự trên chiến trường B2 (bao gồm các quân khu 6, 7, 8, 9, thành phố Sài Gòn-Gia Định và một số tỉnh trực thuộc).

Khu V và Trị Thiên (tách khỏi khu V 1966) do Trung ương trực tiếp chỉ đạo, thông qua Khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu, dù về danh nghĩa thì Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam "chỉ huy" chung Quân GP.

Tư lệnh[sửa]

Nguyễn Thị Định, nữ tướng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam

Chính ủy[sửa]

Theo Nghị quyết tháng 1 năm 1961 của Tổng Quân uỷ, chức vụ này có tên gọi chính thức là Bí thư quân uỷ Miền

Tham mưu trưởng[sửa]

Một số tướng lĩnh[sửa]

Thiếu tướng Nguyễn Thị Định (Phó tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam)

Đại tướng Lê Đức Anh (Khu IX)

Đại tướng Chu Huy Mân (Khu V)

Thượng tướng Trần Văn Trà (B2)

Thượng tướng Hoàng Cầm (Công trường 9)

Trung tướng Đồng Văn Cống (Khu VIII)

Trung tướng Trần Quý Hai (B5)

Trung tướng Đàm Văn Ngụy (Công trường 7)

Thiếu tướng Nguyễn Hòa (Công trường 5)

Thiếu Tướng Trần Gia Bảo

Tướng Trần Độ

Tướng Nguyễn Hữu Xuyến

Tướng Lê Văn Tưởng

Chú thích[sửa]

  1. ^ Từ điển bách khoa Việt Nam 2005, QUÂN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM
  2. ^ Quân uỷ Trung ương năm 1961 gồm 14 người: Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Duy Trinh, Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn, Chu Văn Tấn, Song Hào, Lê Quang Đạo, Trần Văn Trà, Trần Quý Hai, Nguyễn Văn Vịnh, Trần Độ. Bí thư: Võ Nguyên Giáp.Phó Bí thư: Văn Tiến Dũng, Song Hào. Thường trực: Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Song Hào, Hoàng Văn Thái, Trần Quý Hai. Sau nhân sự có thay đổi
  3. ^ Bách khoa tri thức quốc phòng toàn dân. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2003. trang 1732
  4. ^ Bộ Tổng tham mưu quân đội nhân dân Việt Nam. Lịch sử Cục tác chiến. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2001