Quân chủng Hải quân Việt Nam
| Hải quân Nhân dân Việt Nam | |
|---|---|
|
Quân kỳ của Quân đội và Hải quân Nhân dân Việt Nam Phẩm chất cao đẹp "Bộ đội Cụ Hồ" |
|
| Hoạt động | ngày 7 tháng 5, 1955 |
| Quốc gia | Việt Nam |
| Quy mô | 42.000 sĩ quan và binh lính
|
| Khẩu hiệu | Đảo là nhà, Biển cả là quê hương |
| Hành khúc | Lướt sóng ra khơi Sáng tác: Nhạc sỹ Thế Dương |
| Lễ kỷ niệm | 07 tháng 5, 1955 |
| Tham chiến | Chiến tranh Việt Nam Chiến tranh biên giới Tây Nam Hải chiến Trường Sa 1988 |
| Các tư lệnh | |
| Đô đốc | Nguyễn Văn Hiến |
| Huy hiệu | |
| Phù hiệu | |
| Huy hiệu | |
Quân chủng Hải quân, Quân đội Nhân dân Việt Nam còn gọi là Hải quân Nhân dân Việt Nam, là một quân chủng thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam có nhiệm vụ tổ chức, chỉ huy, quản lý, xây dựng quân đội bảo vệ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Cơ quan chỉ huy là Bộ Tư lệnh Hải quân.
Hải quân Nhân dân Việt Nam có các binh chủng tàu mặt nước, Hải quân đánh bộ, Tên lửa-Pháo bờ biển, Không quân Hải quân, tàu ngầm... nhưng không tổ chức bộ tư lệnh riêng.
Hải quân Nhân dân Việt Nam có các cấp đơn vị: hải đoàn, hải đội, binh đoàn Hải quân đánh bộ, các binh đoàn bộ đội chuyên môn, các đơn vị bảo đảm phục vụ (ra đa, thông tin, kỹ thuật, hậu cần...).
Trụ sở Bộ Tư lệnh đặt tại thành phố Hải Phòng. Các lãnh đạo đương nhiệm:
- Tư lệnh: Đô đốc Nguyễn Văn Hiến (Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm nhiệm)
- Chính ủy, Chuẩn Đô đốc Đinh Gia Thật.
- Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng: Phó đô đốc Phạm Ngọc Minh.
- Phó Tư lệnh, Chuẩn đô đốc Trần Đình Xuyên.
- Phó Tư lệnh, Chuẩn đô đốc Nguyễn Viết Nhiên.
- Phó Tư lệnh, Chuẩn đô đốc Nguyễn Văn Ninh.
- Phó Tư lệnh, Chuẩn đô đốc Lê Minh Thành.
- Phó Chính ủy, Chuẩn đô đốc Nguyễn Ngọc Tương.
Mục lục |
Các vùng hải quân [sửa]
Vùng Hải quân là tổ chức liên binh đoàn chiến dịch-chiến thuật của hải quân, phân chia theo lãnh thổ, gồm các binh đoàn, binh đội tàu mặt nước, không quân của hải quân, Hải quân đánh bộ, bộ đội phòng thủ đảo, pháo binh bờ biển và các đơn vị bảo đảm tác chiến (ra đa, thông tin, kỹ thuật, hậu cần...).
Ngày 26 tháng 10 năm 1975, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 141/QĐ-QP thành lập 5 vùng duyên hải thuộc Bộ Tư lệnh hải quân và quy đinh phạm vi quản lý của 5 vùng. Đến năm 1978 giải thể vùng 2 và đổi tên vùng duyên hải thành vùng hải quân.
- Bộ tư lệnh Vùng 1 (hoặc Bộ tư lệnh vùng A): Vịnh Bắc Bộ.quản lý vùng biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh và các đảo trong Vịnh Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Trụ sở Bộ chỉ huy: Hải Phòng
- Tư lệnh: Chuẩn đô đốc Phạm Văn Điển (2011)
- Chính uỷ: Chuẩn đô đốc
- Bộ tư lệnh vùng 3 (hoặc Bộ tư lệnh vùng C) quản lý cả đoạn giữa miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Định gồm các tỉnh là Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định gồm các đảo Cồn Cỏ, Lý Sơn, Quần đảo Hoàng Sa, v.v.. Trụ sở Bộ chỉ huy: Đà Nẵng.
- Bộ tư lệnh Vùng 4 (hoặc Bộ tư lệnh vùng D): Vùng 4 quản lý Quần đảo Trường Sa, đảo Phú Quý và vùng biển phía nam miền Trung, từ Phú Yên đến Bắc Bình Thuận gồm các tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và phía Bắc của Bình Thuận. Trụ sở Bộ chỉ huy: quân cảng Cam Ranh (Khánh Hòa).
- Tư lệnh: Đại tá Phạm Hoài Nam, Uỷ viên dự khuyết BCH TW Đảng khóa XI
- Chính uỷ: Chuẩn đô đốc Phạm Thanh Hóa
- Bộ tư lệnh Vùng 2 (hoặc Bộ tư lệnh vùng B). quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng biển từ Nam Bình Thuận đến Bạc Liêu và thềm lục địa phía Nam , trong đó có khu vực trọng điểm là vùng biển có các cụm kinh tế - khoa học - dịch vụ (gọi tắt là DK1) thuộc thềm lục địa phía Nam, gồm có các tỉnh: phía Nam của Bình Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, và vùng biển phía Đông Nam của tỉnh Cà Mau (bao gồm cả nhà giàn DK1/10 ở bãi ngầm Cà Mau). Trụ sở Bộ chỉ huy: Nhơn Trạch (Đồng Nai).
- Bộ tư lệnh Vùng 5 (hoặc Bộ tư lệnh vùng E): Vùng 5 quản lý vùng biển Nam biển Đông và vịnh Thái Lan thuộc vùng biển hai tỉnh Cà Mau (biển phía Tây Nam của Cà Mau) và Kiên Giang. Trụ sở Bộ chỉ huy : đảo Phú Quốc ( Kiên Giang )
- Tư Lệnh: Chuẩn đô đốc Doãn Văn Sở.(2011)
- Chính uỷ: Chuẩn đô đốc Ngô Văn Phát (2011)
Các cấp hàm [sửa]
Trước năm 1981, quân hàm cấp tướng của quân chủng hải quân chưa có tên gọi riêng, vẫn mô phỏng theo cách gọi của Trung Quốc. Từ năm 1981, quân hàm các cấp tướng trong hải quân mới có tên gọi riêng, theo cách gọi của Liên Xô: Đô đốc (tương đương Thượng tướng), Phó Đô đốc (tương đương Trung tướng), Chuẩn Đô đốc (tương đương Thiếu tướng), được quy định lần đầu tiên trong Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam ban hành ngày 31 tháng 12 năm 1981. Về phù hiệu và cấp hiệu quân hàm xem bài Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Trong lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam chỉ mới có 2 sĩ quan Hải quân lên tới cấp Đô đốc là Giáp Văn Cương (phong năm 1988) và Nguyễn Văn Hiến (phong năm 2011). Theo Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam (1999)[1] thì Phó Đô đốc tương đương Trung tướng là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân.
Lịch sử [sửa]
Hải quân Nhân dân Việt Nam lấy ngày 7 tháng 5 năm 1955, ngày thành lập Cục Phòng thủ bờ biển thuộc Bộ Quốc phòng làm ngày thành lập hải quân. Còn ngày truyền thống là ngày 5 tháng 8 năm 1964, ngày đánh trả thành công chiến dịch Mũi Tên Xuyên - cuộc tập kích đầu tiên bằng không quân của Mỹ vào miền Bắc Việt Nam[2][3].
Ngày 19 tháng 7 năm 1946, Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Huỳnh Thúc Kháng đã ký Quyết định thành lập Hải quân Việt Nam. Tiếp đó, ngày 10 tháng 9 năm đó, Chủ tịch Quân sự Ủy viên Hội Võ Nguyên Giáp ký nghị định đặt cơ quan chỉ huy hải quân là hải đoàn do một hải đoàn trưởng phụ trách. Tuy nhiên đến đầu năm 1947, xét thấy không thể duy trì lực lượng hải quân, Việt Minh đã tháo gỡ máy móc, vũ khí, thiết bị và đánh đắm tàu để không lọt vào tay quân Pháp.
Ngày 8 tháng 3 năm 1949, thành lập Ban nghiên cứu thủy quân thuộc Bộ tổng Tham mưu. Ban này vừa làm nhiệm vụ nghiên cứu vừa làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu. Khoảng 100 người tổ chức thành đội 71 được cử sang đảo Hải Nam (Trung Quốc) huấn luyện về thủy quân trong thời gian 6 tháng. Tuy nhiên ban bị giải thể năm 1951.
Ngày 24 tháng 8 năm 1954, thành lập hai thủy đội Sông Lô và Bạch Đằng.
Tháng 4 năm 1955, Bộ Quốc phòng thành lập Trường huấn luyện bờ biển và ngay tháng sau thành lập Cục Phòng thủ bờ biển, đánh dấu sự ra đời của Hải quân Nhân dân Việt Nam.
Ngày 24 tháng 1 năm 1959, Cục Phòng thủ bờ biển chuyển đổi thành Cục Hải quân và đến ngày 3 tháng 1 năm 1964, Bộ Tư lệnh Hải quân được thành lập.
Ngày 18 tháng 5 năm 1959, thành lập Đoàn 135 (sau này đổi thành 140), đơn vị tàu tuần tiễu.
Ngày 13 tháng 9 năm 1975, tổ chức các đơn vị phòng thủ đảo.
Ngày 14 tháng 3 năm 1988, Hải Quân Nhân Dân Việt Nam đụng độ với Hải Quân Trung Quốc tại đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao.
Ngày 31 tháng 8 năm 1998, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam làm lễ ra mắt.
Tháng 11 năm 2008, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam trở thành một lực lượng độc lập với Hải quân Nhân dân Việt Nam
Chỉ huy và Lãnh đạo qua các thời kỳ [sửa]
Cục phòng thủ bờ biển (1955-1959) [sửa]
- Cục trưởng kiêm Chính ủy: Tạ Xuân Thu
- Cục phó: Nguyễn Bá Phát
- Tham mưu trưởng: Đoàn Bá Khánh
Cục Hải quân (1959-1964) [sửa]
- Cục trưởng kiêm Chính ủy: Đại tá (1959), Thiếu tướng (1961) Tạ Xuân Thu
- Cục phó: Thượng tá (1959) Nguyễn Bá Phát
- Trưởng phòng Tham mưu: Thiếu tá (1959) Đoàn Bá Khánh
Tư lệnh [sửa]
| STT | Họ tên | Thời gian tại chức | Cấp bậc tại nhiệm | Chức vụ cuối cùng | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Tạ Xuân Thu | 1964 | Thiếu tướng (1961) | Chính ủy Học viện Quân sự | Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên của Quân chủng Hải quân |
| 2 | Nguyễn Bá Phát | 1964-1974 | Đại tá (1964), Thiếu tướng Hải quân (1974) | Thứ trưởng Bộ Thủy sản | Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (2010) |
| 3 | Đoàn Bá Khánh | 1974-1975 | Đại tá (1973), Thiếu tướng Hải quân (1975) | ||
| 4 | Nguyễn Bá Phát | 1976-1977 | Thiếu tướng Hải quân (1974) | Thứ trưởng Bộ Thủy sản | Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (2010) |
| 5 | Giáp Văn Cương | 1977-1980 | Thiếu tướng (1974), Trung tướng Hải quân (1980) | Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (2010) | |
| 6 | Đoàn Bá Khánh | 1981-1984 | Thiếu tướng Hải quân (1975) | ||
| 7 | Giáp Văn Cương | 1984-1990 | Phó Đô đốc (1980), Đô đốc (1988) | Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (2010) | |
| 8 | Hoàng Hữu Thái | 1990-1994 | Phó Đô đốc | ||
| 9 | Mai Xuân Vĩnh | 1994-1999 | Phó Đô đốc (1994) | ||
| 10 | Võ Nhân Huân | 1999 | Chuẩn Đô đốc | Quyền Tư lệnh, mất khi đang tại nhiệm. Ủy viên BCHTƯ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII | |
| 11 | Đỗ Xuân Công | 2000-2004 | Phó Đô đốc | Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh TP.HCM | |
| 12 | Nguyễn Văn Hiến | 2004-nay | Phó Đô đốc (2004), Đô đốc (2011) | Kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng từ tháng 01 năm 2011. Ủy viên BCHTƯ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X và XI. |
Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân chủng, Phó tư lệnh Chính trị [sửa]
| STT | Họ tên | Thời gian tại chức | Cấp bậc tại nhiệm | Chức vụ cuối cùng | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Tạ Xuân Thu | 1964-1967 | Thiếu tướng (1961) | Chính ủy Học viện Quân sự | Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên của Quân chủng Hải quân |
| 2 | Đoàn Phụng | 1967-1969 | Đại tá (1961) | ||
| 3 | Lương Tuấn Khang | 1969-1970 | Đại tá (1966) | Chính ủy Quân khu Tả ngạn | |
| 4 | Hoàng Trà | 1970-1974 | Đại tá | Thiếu tướng (1974), Phó Chủ nhiệm Chính trị Tổng cục Hậu cần | Huân chương Độc lập hạng Nhất |
| 5 | Trần Văn Giang | 1974-1975 | Đại tá (1974) | Thiếu tướng Hải quân (1980), Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng | Huân chương Quân công hạng Nhất |
| 6 | Hoàng Trà | 1975-1979 | Thiếu tướng Hải quân (1974) | Phó Chủ nhiệm Chính trị Tổng cục Hậu cần | Huân chương Độc lập hạng Nhất |
| 7 | Trần Văn Giang | 1981-1986 | Thiếu tướng Hải quân (1980) | Huân chương Quân công hạng Nhất | |
| 8 | Lê Văn Xuân | 1987-1995 | Chuẩn đô đốc (1984), Phó đô đốc (1992) | Huân chương Quân công hạng Nhì | |
| 9 | Võ Nhân Huân | 1995-1999 | Đại tá (1995), Chuẩn Đô đốc | ||
| 10 | Nguyễn Văn Tình | 2000-2008 | Chuẩn đô đốc (2001), Phó Đô đốc (2004) | Bí thư đảng ủy, Chính ủy Quân chủng Hải quân | Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1969) |
| 11 | Trần Thanh Huyền | 2008-2012 | Chuẩn Đô đốc (2008)Phó Đô đốc (2010) | ||
| 12 | Đinh Gia Thật | 2012-nay | Chuẩn Đô đốc (2011) |
Tham mưu trưởng [sửa]
| STT | Họ tên | Thời gian tại chức | Cấp bậc tại nhiệm | Chức vụ cuối cùng | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Trần Thanh Từ | 1964-1967 | Thượng tá (1959), Đại tá (1966) | Trung tướng (1986), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật | Tham mưu trưởng đầu tiên của Quân chủng Hải quân |
| 2 | Nguyễn Xáng (Dũng Mã) | 1967-1970 | Thượng tá (1966) | Thiếu tướng (1984), Cục trưởng Cục Kế hoạch huấn luyện, Học viện Quân sự cao cấp | Huân chương Quân công hạng nhất |
| 3 | Đoàn Bá Khánh | 1970 | Thượng tá (1970) | Thiếu tướng Hải quân (1975), Tư lệnh Quân chủng | |
| 4 | Nguyễn Dưỡng | 1970-1977 | Thượng tá (1970), Đại tá (1974) | Thiếu tướng Hải quân (1980), Phó tư lệnh Quân chủng | |
| 5 | Hoàng Hữu Thái | 1977-1982 | Đại tá | Phó Đô đốc, Tư lệnh Quân chủng | |
| 6 | Mai Xuân Vĩnh | 1982-1991 | Đại tá, Chuẩn đô đốc (1984) | Phó Đô đốc, Tư lệnh Quân chủng | |
| 7 | Trương Tải | 1991-1995 | Đại tá | ||
| 8 | Trần Quang Khuê | 1996-2000 | Đại tá, Chuẩn đô đốc | Trung tướng (2008), Phó tổng tham mưu trưởng | |
| 9 | Nguyễn Văn Hiến | 2000-2004 | Chuẩn đô đốc (2000) | Phó Đô đốc (2004), Đô đốc (2011), Tư lệnh Quân chủng | |
| 10 | Phạm Ngọc Minh | 2005-nay | Đại tá, Chuẩn đô đốc (2007) Phó đô đốc (2012) |
Trang bị của Hải quân Nhân dân Việt Nam [sửa]
Tàu chiến [sửa]
| Hình ảnh | Nước SX | Tên | Số lượng | Trọng tải (tấn) | Dài x Ngang x Sâu (m) |
Động cơ | Chân vịt | Công suất (mã lực) | Vận tốc (hải lý/giờ) | Tầm hoạt động (dặm/hải lý) | Thủy thủ đoàn | Vũ khí | Ghi chú | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tàu ngầm | ||||||||||||||
| Kilo (cải tiến) | 0 | 2300 | 73,8x9,9x6,6 | Diesel điện |
1 | 2x3650 + 6000 | nổi 10, lặn 17 | nổi 6000/7, lặn 400/3 | 52 | 6 ống phóng ngư lôi 553 ly có thể sử dụng để phóng tên lửa đối hạm 3M-54 Klub và đối đất 3M-14E, 18 ngư lôi, 24 mìn, 8 SA-N-8 tên lửa phòng không | Việt Nam kí 1 hợp đồng đặt mua 6 chiếc với giá trị là 3.1 tỉ Dollar, bao gồm cả xây dựng căn cứ tàu ngầm tại Việt Nam năm 2009. Chiếc đầu tiên đã được khời đóng ngày 24.8.2010. Thời gian nhận chiếc đầu tiên dự kiến 2012[4] nhưng do nhà máy đóng tàu Admiralty ở St. Petersburg đã đẩy nhanh tiến độ đóng tàu nên năm 2012 đã có 1 chiếc được hạ thủy và đầu năm 2013 thêm 1 chiếc nữa được hạ thủy . Dự kiến chiếc đầu tiên sẽ về Việt Nam tháng 8-2013 ,thời gian giao hàng rút ngắn lại từ 2013-2016 sẽ giao đủ 6 chiếc [5] | |||
| Yugo | 2 | 90 | 73,8x9,9x6,6 | MTU (Diesel đơn trục) |
1 | nổi 10, lặn 4 | 7 | Ngư lôi 400 ly | Có nguồn tin cho rằng Yugo sẽ không còn được sử dụng từ năm 2012 | |||||
| Tàu hộ vệ tên lửa/chống ngầm | ||||||||||||||
| Gepard[6] | 2 (2 chiếc nữa đã đặt hàng) | 2100 | 102,14x13,60 x5,30 |
CONDOG đơn trục | 2 | 4000 + 14960 | 18. Qua quá trình cải tiến, tàu đã đạt được vận tốc vượt chỉ số vận tốc khi thiết kế (27 hải lý thay vì 18 hải lý). | 20000/10 | 160 | Tổ hợp 8 tên lửa chống hạm Kh-35E Uran với cự ly bắn đến 130 km . 1 súng 76,2 mm AK-176M ; 2 súng 30mm AK-630 M , 12 hỏa tiễn chống tàu ngầm RBU-6000 . Lưu ý 2 tàu Gepard đầu tiên của HQVN không trang bị Tên lửa phòng không Osa-MA với 20 quả tên lửa mà thay vào đó là tổ hợp pháo cao tốc kết hợp tên lửa phòng không tầm thấp và cực thấp Palma Kashtan CIWS gồm 2 pháo AO-18KD 30 mm có tốc độ bắn 10.000 viên/phút cùng 8 tên lửa 9M311 . Có trang bị . 4 ống phóng ngư lôi 533 mm với 20 quả đạn . Tàu có thể mang theo một máy bay trực thăng hải quân Helix Ka-28 hoặc Ka-32[7][8] | HQ-011 Đinh Tiên Hoàng HQ-012 Lý Thái Tổ |
|||
| Petya II | 3 | 1077 | 82,30x9,20 x3,20 |
CONDOG song trục | 3 | 4400+22000 | 32 | 5000/10 | 92 | 2 cặp 76,2 ly, 2 ngũ ống phóng ngư lôi 401 ly, 2 RBU-6000 ASW RL, 2 DC racks, mìn | 2 chiếc mang số hiệu là HQ-13, HQ-15, HQ-17 đóng từ năm 1966 | |||
| Petya III | 2 | 1040 | 91.90x9,20 x2,72 |
CONDOG song trục | 3 | 4400+22000 | 32 | 1650/20 | 92 | 2 cặp 76,2 ly, 3 ống phóng ngư lôi 533 ly, 4 RBU-1200 ASW RL, 2 DC racks, mìn | 2 chiếc mang số hiệu là HQ-09, HQ-11 đóng từ năm 1978 (HQ-11 không có ngư lôi nhưng có thêm pháo phòng không AA: 2 cặp 37 ly và 2 cặp 23 ly) | |||
| Tàu tên lửa tốc độ cao | ||||||||||||||
| BPS-500 | 2 | 517 | 62,00x11,20 x2,50 |
2 dầu | 2 jets | 19600 | 35 | 1650/14 | 28 | 8 Kh-35 Uran SSM, 1 khẩu 76,2 ly/59cal DP, 1 khẩu AA 30 ly AK-630, 2 khẩu MG 12,7 ly , ống phóng ngư lôi cùng hỏa tiễn chống tàu ngầm RBU-120 . | Lắp ráp tại Việt Nam từ 1999 với kỹ thuật của Nga (HQ 381, 383) | |||
| Tarantul Project 1241.RE (NATO: Tarantul I) | 6 | 455 | 56,10x10,20 x2,14 |
COGAG 2 trục | 2 | 5880+17650 | 35 | 2200/14 | 50 | 4 tên lửa SS-N-2C Styx SSM hay 4 tên lửa SS-N-22 , 1 khẩu ẠK-176M 76,2 ly/59cal DP, 1 hệ thống gồm 4 tên lửa SA-N-5 SAM MANPAD , 2 khẩu AK-630 30 ly phòng không . | Số hiệu: HQ-371, HQ-372, HQ-373, HQ-374,HQ-377, HQ-378 | |||
| Tarantul Project 1241.8 'Molniya' (NATO: Tarantul V) | 4 | 550 | 56,10x10,20 x2,14 |
COGAG 2 trục | 2 | 5880+17650 | 35 | 2200/14 | 50 | 16 tên lửa Kh-35E Uran , 1 khẩu ẠK-176M , 1 hệ thống gồm 4 tên lửa SA-N-5 SAM MANPAD , 2 khẩu AK-630 30 ly phòng không . SSM[9] | HQ-375,HQ-376. Năm 2010 bắt đầu lắp ráp 10 chiếc tại TP HCM .13/3/2013 ,chiếc Molniya đầu tiên đóng tại VN hạ thủy[10] ,2/4/2013 ,chiếc tàu Molniya thứ hai đóng tại VN được hạ thủy [11] .2 chiếc đang đóng khung thân tàu và dự đoán đến 2014 sẽ được biên chế. Dự kiến đến 2017 sẽ có thêm 3-4 chiếc nữa. | |||
| Tàu tuần tra | ||||||||||||||
| Osa II | 8 | 226 | 38,60x7,60 x2,00 |
3 dầu | 3 | 15000 | 36 | 800/25 | 35 | 4 SS-N-2B Styx SSM tầm bắn 80 km - nặng gần 5 tấn, 2 dual 30 ly | HQ-384, HQ-385 ..., đóng từ năm 1975. 8 chiếc còn hoạt động[cần dẫn nguồn] | |||
| Turya | 5 | 250 | 39,60x7,60 x2,00 |
3 dầu | 3 | 15000 | 42 | 650/20 | 26 | 1 cặp 57 ly/70cal AA, 1 cặp 25 ly, 4 ống phóng ngư lôi 533 ly | HQ-331, HQ-335, ... đóng từ năm 1984 (HQ-334,335 không có ngư lôi) | |||
| Turya PTF | 5 | 250 | 39,60x7,60 x2,00 |
3 dầu | 3 | 15000 | 42 | 650/20 | 26 | 1 cặp AK-725 DP 57 ly, 1 cặp 2M-3M AA 25 ly, 4 ống phóng ngư lôi TT cải tiến 533 ly (2 ống phóng ngư lôi Kiểu 53-65 và 2 ống phóng ngư lôi Kiểu 53-56B/K) | ||||
| Shershen PTF | 16 (4 giao cho Cảnh sát Biển) | 250 | 36,00x7,50 x1,50 |
3 dầu | 3 | 12000 | 42 | 450/35 | 22 | 1 cặp AK-725 DP 57 ly, 1 cặp 2M-3M AA 25 ly, 4 ống phóng ngư lôi TT cải tiến 533 ly (2 ống phóng ngư lôi Kiểu 53-65 và 2 ống phóng ngư lôi Kiểu 53-56B/K) | Được đóng từ năm 1965. Một số Shershen đã được trang bị 4 Fasta-M SR-SAM | |||
| Svetlyak thuộc lớp Projekt 10412 | 6 | 375 | 49,50x9,20 x2,20 |
3 dầu | 3 | 16200 | 13 (tiết kiệm) 30 (tối đa) |
2200/13 | 28 | 1 khẩu AK-176M 76,2 ly, 4x4 (16) Ingal-M SR-SAM, 1 cặp AK-630 AA 30 ly, 1 súng phóng lựu AGS-17 | Việt Nam từng dự định đóng 10-12 tàu lớp này. HQ-261,HQ-263,HQ-264,HQ-265, HQ-266, HQ-267(2 chiếc HQ-266 , HQ-267 được tiếp nhận năm 2012)[12]. Tàu ko có khả năng chống ngầm, không có tên lửa, có thể liệt vào loại tàu pháo (tương tự TT400TP do Việt Nam đóng). | |||
| Mirage Projekt 14310 | 4 | 127,1 | 35,45x6,79 x2,76 |
dầu | 2 | 10800 | ?/>50 (tối đa) | ? | 14 | 1 khẩu AK-306 loại 6 nòng 30 ly, 2 súng máy 14,5 ly, Hệ thống tên lửa phòng không Igla 1 M, 1 súng phóng lựu chống ngầm cầm tay DP-64, Hệ thống tên lửa SHTURM với 6 tên lửa ATAKA tầm bắn 5800m để chống xe tăng - đổ bộ. | ||||
| Tàu tuần tra lớp TT400TP | 2 (đang đóng thêm nhiều chiếc khác) | 480 (đầy tải) | 54,16x9,16 x2,40 |
? | ? | ? | ?/>32 (tối đa) | 2500 | ? | 1 khẩu AK-176M 76,2 ly, hệ thống pháo AK-630 AA 30 ly phía sau, 1 súng máy và tên lửa phòng không MANPAD | . | |||
| Tàu tuần tra xa bờ | ||||||||||||||
| Trục lôi hạm | ||||||||||||||
| Yurka | 2 | 560 | 52,10x9,60 x2,65 |
2 dầu | 2 | 5000 | 16 | 1500/12 | 46 | 2 cặp pháo 30 ly, 10 trái mìn | HQ-851, HQ-855, đóng từ năm 1979 | |||
| Sonya | 4 | 430 | 48,80x10,20 x2,65 |
Diesel 2 trục | 2 | 2000 | 14 | 3000/10 | 32 | 1 cặp 30 ly, 1 cặp 25 ly, 5 trái mìn | HQ-464, HQ-465, HQ-466, HQ-467, đóng từ năm 1987 đến 1990 | |||
| Yevgenya | 2 | 88.5 | 26,13x5,90 x1,30 |
Diesel 2 trục | 2 | 850 | 12 | 300/10 | 10 | 2 khẩu súng máy 14,5 ly, thiết bị quét MT34, SEMT-1, AT-2, Neva, GKT-3 | ||||
| SO-1 | 4 | 213 | 41,90x6,10 x1,80 |
3 dầu | 3 | 6000 | 27 | 1100/15 | 33 | Đóng từ năm 1960 | 2 cặp pháo 25 ly, 4 RBU-1200 ASW RL, 2 DC racks, 18 trái mìn | |||
| Tàu đổ bộ lưỡng dụng | ||||||||||||||
| Tàu vận tải | ||||||||||||||
|
||||||||||||||
| Tàu hỗ trợ | ||||||||||||||
|
||||||||||||||
Tên lửa [sửa]
| Nước SX | Tên | Ghi chú |
|---|---|---|
| Tên lửa phòng thủ bờ biển | ||
| P-5 Pyatyorka/SS-N-3/SS-C-1 Shaddock | Tên lửa chống hạm | |
| P-15 Termit Termit/SS-N-2/SS-C-3 Styx | Tên lửa chống hạm | |
| P-270 Moskit Moskit/SS-N-22 Sunburn | Tên lửa chống hạm | |
| P-800 Oniks/SS-N-26/SS-C-5 Yakhont | Tên lửa siêu âm chống hạm tầm thấp hay còn được biết dưới tên gọi hệ thống phòng thủ Bastion. | |
| Tên lửa sử dụng trên tàu chiến | ||
| P-15 Termit/SS-N-2A/B Styx | Tên lửa chống hạm. Trang bị trên các tàu PTG và tàu tuần tra. |
|
| Kh-35 Uran/SS-N-25 Switchblade 3M-24E | Tên lửa hạ âm chống hạm tầm thấp. Trang bị trên khu trục hạm Gepard. |
|
| Tên lửa không đối đất | ||
| Kh-31 Krypton | Tên lửa chống hạm siêu âm | |
| P-800 Oniks/Yakhont | Phiên bản không đối đất của tên lửa Yakhont-M | |
Máy bay [sửa]
| Nước SX | Tên | Ghi chú |
|---|---|---|
| Trực thăng | ||
| Ka-25 | Trực thăng săn ngầm (ngừng sử dụng vì quá cũ) | |
| Ka-28/Ka-32 | Trực thăng săn ngầm | |
| Mi-171 | Máy bay vận tải | |
| EC-225 | Máy bay trinh sát | |
| Máy bay cánh cố định | ||
| DHC-6 | Máy bay tuần tra biển | |
| CASA 212 | Máy bay tuần tra biển | |
Phong tặng [sửa]
- Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
- Huân chương Sao vàng (hai lần, lần 2 năm 2010) [13]
Tài liệu tham khảo [sửa]
- [6] World Navies Today: Vietnam
- [7] Hình ảnh chiến hạm HQNHVN
- [8] Hình chiếc hải phòng hạm mới (kiểu Gepard) đang hoàn thành tại Sint Petersburg - 10/2010
Chú thích [sửa]
- ^ Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999
- ^ VietNamNet, Ngày này năm xưa
- ^ Thanh Niên, Quân chủng Hải quân đánh thắng trận đầu: Cuộc giáng trả đanh thép 40 năm trước, 04/08/2004
- ^ Việt Nam sắp có 6 tàu ngầm từ Nga
- ^ Nga hạ thủy tàu ngầm Kilo thứ 2 cho Việt Nam
- ^ [1] Projet 1166.1 Gepard 3.9
- ^ [2] Projet 1166.1 Gepard Forum
- ^ [3] Gepard 3.9 : Fregat Baru Vietnam
- ^ [4] Project 1241.8 Molniya Missile Boat
- ^ http://www.youtube.com/watch?v=SQ3pUpHOvHA&list=UUIWsjhUoOuG1YrbdA0a8ENA&index=6
- ^ http://www.youtube.com/watch?v=OTNmtJ3I_v8
- ^ http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Quan-chung-Hai-quan-tiep-nhan-tau-phao-HQ266-va-HQ267/201210/240873.datviet
- ^ [5] Hải quân là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên biển, đảo - Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 21:41 | 07/05/2010.
Liên kết ngoài [sửa]
|
||||||||||||||||