Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Người lính Quân Giải phóng đứng dưới cờ của Mặt trận

Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam, gọi tắt là Giải phóng quân hoặc Quân Giải phóng, theo định nghĩa hiện nay của Nhà nước Việt Nam và định nghĩa ngầm không công khai với đối phương khi đó (theo quyết định của Tổng quân ủy) là bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam chiến đấu trên chiến trường miền Nam Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam. Quân đội này được thành lập theo quyết định của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Quân ủy Trung ương Quân đội Nhân dân Việt Nam [1].

Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra chỉ thị: Lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam sẽ mang tên “Quân giải phóng miền Nam Việt Nam”. Cụ thể hóa chủ trương của Bộ Chính trị, chỉ thị của Tổng Quân ủy tháng 1 năm 1961 nêu rõ: “Quân giải phóng miền Nam Việt Nam là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam, do Đảng sáng lập và xây dựng, giáo dục và lãnh đạo. Đường lối chính trị và đường lối quân sự của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của nó. Mục tiêu chiến đấu của quân đội đó là kiên quyết thực hiện cương lĩnh, đường lối của Đảng, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc, thực hiện dân tộc độc lập, người cày có ruộng tiến lên xã hội chủ nghĩa.

Quân giải phóng miền Nam Việt Nam vừa là một đội quân chiến đấu vừa là một đội quân công tác sản xuất. Để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam sẽ xây dựng ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Phương châm xây dựng là khẩn trương nhưng phải phù hợp với tình hình, khả năng thực tế và có đủ điều kiện để đối phó với những tình huống đột biến, lấy việc xây dựng các đơn vị tập trung làm chủ yếu, đồng thời hết sức coi trọng việc xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích[2].

Tại Hội nghị quân sự ở Chiến khu Đ ngày 15.2.1961, quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang ở miền Nam Việt Nam thành Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam [3]. Đây là lực lượng vũ trang trong thành phần của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1960-1976) và chịu quản lý của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969-1976), công khai do Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam chỉ đạo. Theo các điều khoản của Hiệp định Paris, có sự phân chia Quân đội nhân dân Việt Nam ở tai miền nam và Quân giải phóng Miền Nam.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Quân giải phóng Miền Nam ban đầu bao gồm lực lượng ở lại không đi tập kết, lực lượng mới tham gia tại chỗ và lực lượng đi tập kết đã quay lại miền Nam hoạt động.[4]. Lực lượng bộ đội từ miền Bắc tăng cường vào Nam chiến đấu, kể từ năm 1963, nghiễm nhiên cũng là bộ đội thuộc biên chế QGPMN, chứ không phân biệt quân đội hai miền Nam-Bắc như quan điểm của Hoa Kỳ và VNCH [5]. Quân Giải phóng miền Nam chịu sự chỉ đạo của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam, Quân ủy Trung ương Quân đội Nhân dân Việt Nam[6], Trung ương Cục miền Nam, Bộ Tổng tư lệnh, Quân ủy Miền, Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, Khu ủy Trị Thiên, Khu ủy khu V và Bộ tư lệnh các khu: Trị Thiên, V, VI, VII, VIII, IX, các chiến trường, Đảng ủy quân sự và Bộ Chỉ huy quân sự các tỉnh, thành phố tại miền Nam.

Cũng có một định nghĩa khác vào giai đoạn sau, Quân giải phóng Miền Nam là lực lượng trên địa bàn B2, tức địa bàn được Bộ Chính trị và Quân ủy TW phân công TW cục miền nam và Bộ tư lệnh Miền (Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam) phụ trách - từ cực nam Trung Bộ trở vào.[cần dẫn nguồn]

Các tài liệu của Hoa Kỳphương Tây thường dùng "Quân giải phóng miền Nam" (Quân Việt Cộng) để chỉ lực lượng vũ trang được tuyển mộ tại miền Nam Việt Nam để phân biệt với Quân đội Nhân dân Việt Nam mà họ thường gọi là "Quân đội Bắc Việt". Một số mô tả một cách nhầm lẫn đây là hai lực lượng có chỉ huy, lực lượng và đường lối riêng, với quan hệ đồng minh tương trợ, vì năm 1962 Đảng bộ Miền Nam "tách ra" thành lập "Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam" và công khai là nòng cốt Mặt trận và chỉ huy Quân giải phóng, có đường lối chính trị khác với Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Đảng Lao động áp dụng tại miền bắc khi đó. Thậm trí một số tài liệu còn cho là "Bắc Việt Nam" và "Việt Cộng" đánh dấu phân khu chiến trường khác nhau[7], phía Bắc Việt Nam phân mật danh ký hiệu B, MR còn Việt Cộng theo MR.

Phần lớn các tài liệu của Hoa Kỳ và những người thuộc Việt Nam Cộng hòa hiện nay vẫn phân biệt một cách rạch ròi quân đội cách mạng ở miền Nam trong chiến tranh gồm "Quân đội nhân dân Việt Nam" (họ gọi là "Quân đội Bắc Việt Nam") và "Quân giải phóng Miền Nam" (gọi là "Quân Việt Cộng").[8]

Theo Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam, trong tháng 1 năm 1968, tháng của cuộc tấn công Tết Mậu Thân, số lượng tiểu đoàn khẳng định:

Vùng một chiến thuật: 16 tiểu đoàn cơ động Việt Cộng và 53 tiểu đoàn cơ động Bắc Việt

Vùng hai chiến thuật: 15 tiểu đoàn cơ động Việt Cộng và 35 tiểu đoàn cơ động Bắc Việt

Vùng ba chiến thuật: 39 tiểu đoàn Việt Cộng và 20 tiểu đoàn cơ động Bắc Việt

Vùng bốn chiến thuật: 29 tiểu đoàn cơ động Việt Cộng

Trước đó không lâu, tháng 3 năm 1967, các đơn vị công binh bao gồm Lữ đoàn 305, Trung đoàn 426, và chín tiểu đoàn dưới sự kiểm soát của Phân nhánh công binh (Được biết đến như Bộ tư lệnh công binh trong danh sách MACV), và có thể có được các đơn vị công binh khác theo vào Mặt trận B2[9].

Theo một báo cáo của Mỹ, tháng 3 năm 1972, có hơn 37.500 quân (7500 quân Việt Cộng, 35.500 quân Bắc Việt Nam, cả chủ lực và địa phương) ở vùng I, gần 24.000 quân (gần 10.000 quân Việt Cộng, hơn 13.500 quân Bắc Việt Nam, cả chủ lực và địa phương) ở vùng II, hơn 23.700 quân (hơn 13.600 quân Việt Cộng, hơn 10.000 quân Bắc Việt Nam, cả chủ lực và địa phương) ở vùng III, gần 17.000 quân (hơn 13.100 quân Việt Cộng, hơn 5.700 quân Bắc Việt Nam, cả chủ lực và địa phương) ở vùng IV, tổng cộng hơn 101.000 quân, tính cả các lực lượng khác kể cả chỉ huy tham gia trực tiếp chiến đấu ở vùng I là hơn 74.400 (hơn 20.800 Việt Cộng, hơn 47.400 quân Bắc Việt Nam, cộng với 64.00 du kích) , vùng II hơn 42.400 (hơn 13.700 quân Việt Cộng, hơn 19.700 quân Bắc Việt Nam, cộng với 8.900 du kích), hơn 60.900 (hơn 43.900 quân Việt Cộng, hơn 15.000 quân Bắc Việt Nam, cộng với 1.900 du kích) ở vùng III, vùng IV có hơn 34.500 (21.500 quân Việt Cộng, hơn 3700 quân Bắc Việt Nam, cộng với 9.200 du kích) tổng cộng hơn 212.000 người (hơn 100.000 quân Việt Cộng, gần 86.000 quân Bắc Việt Nam, 26.400 du kích). Ngoài các lính Quân đội nhân dân trong các đơn vị BV, còn có khoảng 19.000 - 21.000 thuộc Quân đội nhân dân trong các đơn vị VC. [cần dẫn nguồn]

Thống kê theo các tỉnh quân chủ lực và địa phương, và các lực lượng khác trực tiếp tham gia chiến đấu (không kể du kích) đóng tại chỗ, di chuyển vào hay có thể đã di chuyển vào:

Quảng Trị hơn 23.000, Thừa Thiên hơn 17.500, Quảng Nam hơn 11.700, Quảng Tín hơn 9.400, Quảng Ngãi hơn 7.700

Bình Định hơn 8.900, Kon Tum hơn 9.100, Pleiku hơn 4.500, Phú Bổn gần 600, Phú Yên hơn 1.300, Khánh Hòa hơn 1.300, Ninh Thuận hơn 600, Darlac hơn 1000, Quảng Đức hơn 1.300, Tuyên Đức hơn 1.000, Lâm Đồng gần 500, Bình Thuận hơn 1.800

Bình Tuy hơn 3.200, Phước Long hơn 11.400, Bình Long gần 6.200, Long Khánh hơn 1.300, Phước Tuy hơn 600, Biên Hòa hơn 2.000, Tây Ninh hơn 25.200, Bình Dương hơn 2.600, Hậu Nghĩa gần 3.100, Long An hơn 1.700, Gia Định gần 500

Sa Đéc gần 200, Kiến Tường hơn 2.300, Định Tường gần 4.200, Gò Công hơn 300, Kiến Hòa hơn 1.700, Kiến Phong hơn 1.800, Châu Đốc gần 1.800, An Giang gần 200, Kiên Giang hơn 5.400, Vĩnh Bình hơn 1.800, Vĩnh Long gần 700, Phong Dinh hơn 800, Chương Thiện gần 1.600, Ba Xuyên hơn 200, Bạc Liêu hơn 400, An Xuyên hơn 1.800

Cộng thêm 26.400 du kích tổng cộng thống kê được hơn 210.000 người.[cần dẫn nguồn]

Tuy nhiên các tài liệu Mỹ trong chiến tranh phổ biến gọi Quân đội Nhân dân Việt Nam (Bắc Việt) là quân được đào tạo, huấn luyện, chọn lựa tại Miền Bắc mà toàn bộ hoặc chủ yếu là người miền Bắc. Còn Quân giải phóng Miền Nam (Việt Cộng)là quân được thiết lập và rèn luyện tại miền Nam thành phần trước tiên là những người cư trú tại Miền Nam. Cả Quân đội nhân dân và Quân giải phóng đều được chia thành quân chủ lực và quân địa phương, ngoài ra có du kích. Cách gọi này hoàn toàn không xuất phát từ mục đích chính trị, lực lượng lãnh đạo, hay xem xét quê quán mà là từ nguồn gốc di chuyển từ ngoài Bắc vào hay thiết lập tại chỗ trên địa bàn miền Nam. Trong chiến tranh tài liệu của bên cách mạng luôn chỉ gọi các đội quân chiến đấu ở Miền Nam là Quân giải phóng Miền Nam, và không cho biết các đơn vị hành quân từ ngoài bắc vào vì lý do bí mật thời chiến mặc dù khẳng định sự chi viện của miền bắc cho miền nam. Sau Hiệp định Paris ký kết lập lại hòa bình ở Việt Nam, có sự thống kê quân số Quân giải phóng miền Nam và Quân đội nhân dân ở tại Miền Nam. Quân giải phóng Miền Nam thuộc biên chế quản lý của Bộ Quốc phòng Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Tuy nhiên theo nguyên tắc, tất cả quân đội do Đảng thành lập chịu sự chỉ huy của các cấp ủy đảng và bộ máy đảng chỉ huy quân đội.

Đảng Nhân dân Cách mạng công khai lãnh đạo Quân giải phóng, tuy nhiên các tài liệu đối phương thu thập được không khẳng định được nó độc lập đến đâu với Đảng Lao động. Trung ương Cục Miền Nam của Đảng Lao động được xem là nhằm thiết lập sự kiểm soát đối với Đảng Nhân dân cách mạng, và là "ban bí thư" của đảng này. Tài liệu sau Hiệp định Paris năm 1973 cho biết Đảng Nhân dân Cách mạng như là một nhánh của Đảng Lao động, có sự "tự quản" nhưng không độc lập với Đảng Lao động. Sau 30 tháng 4 năm 1975 Đảng Lao động công bố công khai Đảng Nhân dân Cách mạng thực tế là đảng bộ Miền Nam của Đảng Lao động (khi đó Phạm Hùng là bí thư Đảng bộ) và luôn chịu sự quản lý trực tiếp của TW Đảng. Như vậy trên thực tế tất cả các lực lượng vũ trang cách mạng đều chịu sự chỉ đạo chung của Trung ương Đảng, Quân ủy TW, Bộ Tổng Tư lệnh. Từ năm 1964 khi cử quân chính quy từ ngoài Bắc vào, Trung ương Cục Miền Nam, Quân ủy Miền và Bộ Tư lệnh các lực lượng các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam thực tế chỉ chỉ huy trực tiếp trên địa bàn B2 (dù công khai chỉ huy Quân giải phóng trên địa bàn Miền Nam không cho biết quân hình thành tại miền nam hay di chuyển từ ngoài bắc vào).

Quá trình phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 năm 1961, Tổng Quân ủy ra chỉ thị thành lập Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam, một bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam để chiến đấu trên chiến trường miền Nam Việt Nam[10].

Thực hiện quyết định của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, ngày 15 tháng 2 năm 1961, tại Hội nghị quân sự tại Chiến khu Đ, Quân Giải phóng miền Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang ở miền Nam Việt Nam. Thực chất, đây là lực lượng Vệ Quốc Đoàn còn ở lại miền Nam Việt Nam và lực lượng chiêu mộ tại chỗ, kết hợp với những người miền Nam tập kết ra Bắc bí mật quay lại miền Nam từ năm 1959, về sau được tăng cường thêm các binh sĩ từ miền Bắc vào [cần dẫn nguồn].

Ngày 2 tháng 9 năm 1961, Trung đoàn 1 bộ binh (lúc mới thành lập mang bí số C.56, sau đổi là Q. 761) được thành lập tại căn cứ Dương Minh Châu (miền Đông Nam Bộ). Đây là đơn vị chủ lực cơ động cấp trung đoàn đầu tiên của Quân Giải phóng miền Nam.[cần dẫn nguồn]

Tính đến cuối năm 1961, bộ đội địa phương tỉnh, huyện và bộ đội chủ lực khu có 24.500 người; du kích, tự vệ có 100.000 người (70.000 người ở Nam Bộ, 30.000 người ở khu V). Bộ đội chủ lực thuộc các quân khu có 11 tiểu đoàn[cần dẫn nguồn]. Các tướng lĩnh chỉ huy Quân Giải phóng: Trần Văn Trà, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, Nguyễn Thị Định...

Năm 1963, bộ đội địa phương tỉnh đã tăng lên gấp đôi so với năm 1962, (64.000 quân so với 30.500 quân).[cần dẫn nguồn]

Từ năm 1964, lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Bắc được đưa nhiều vào miền Nam, tăng cường lực lượng cho Quân Giải phóng miền Nam. Năm 1964, Quân đội nhân dân Việt Nam từ ngoài Bắc vào có 10.000, đến cuối năm 1973, chỉ tính quân chính quy Quân đội nhân dân là 100.000, và đến tháng 12 năm 1974 quân chính quy Quân đội nhân dân ở miền nam lên tới 200.000. Các lực lượng quân chính quy Quân giải phóng miền Nam đến tháng 12 năm 1974 là hơn 90.000 quân[11]. Theo một tài liệu Bộ đội chủ lực của Quân giải phóng Miền Nam vào tháng 12-1974 khoảng 290.000 người, trong đó có chừng 90.000 người miền Nam.

Tương quan lực lượng (theo báo cáo tại Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tháng 1 năm 1968):

  • "1959 - 1960, khi mới bắt đầu khởi nghĩa, quân địch 7, ta 1 (lúc đó chưa có quân viễn chinh Hoa Kỳ);
  • 1960: địch 10, ta 1;
  • 1961: địch 7, ta 1;
  • 1962 - 1963: địch 5, ta 1;
  • 1965 cho đến 1968: Mỹ vào nửa triệu quân nữa, tất cả, đến bây giờ, địch 3, ta 1."

Năm 1976 Quân Giải phóng miền Nam được thống nhất hình thức với quân đội Nhân dân Việt Nam, lấy tên chung là Quân đội Nhân dân Việt Nam[12].

Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam (Bộ chỉ huy Miền) "là cơ quan tiền phương" của Bộ Tổng tư lệnh, gồm Tư lệnh, phó tư lệnh, chính ủy và phó chính ủy, tham mưu trưởng, phó tham mưu trưởng, chủ nhiệm chính trị, chủ nhiệm hậu cần, trực tiếp chỉ đạo quân sự trên chiến trường B2 (bao gồm các quân khu 6, 7, 8, 9, thành phố Sài Gòn-Gia Định và một số tỉnh trực thuộc).[13]. Về công khai khi thành lập năm 1963 (gắn với Đảng Nhân dân cách mạng và Mặt trận), nó chỉ huy toàn bộ Quân giải phóng ở miền Nam, và Tư lệnh, chính ủy,...được gọi là Tư lệnh Quân giải phóng, Chính ủy Quân giải phóng...nhưng thực tế từ 1964 là địa bàn B2.

Khu V và Trị Thiên (tách khỏi khu V 1966) do Trung ương trực tiếp chỉ đạo, thông qua Khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu, Bộ Tư lệnh Mặt trận, dù về danh nghĩa thì Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam "chỉ huy" chung Quân Giải phóng.

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Một số vũ khí của quân Giải phóng miền Nam Việt Nam

Mục đích của Măt trận Dân tộc Giải phóng ban đầu là thành lập Quân giải phóng Miền Nam - lực lượng của Mặt trận - nhằm tạo một vị thế độc lập với Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Bắc của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (chủ trương của Bộ Chính trị nhưng công khai là Mặt trận). Các lực lượng Quân đội nhân dân hành quân qua vĩ tuyến 17 sẽ được xem là thuộc Quân giải phóng miền nam (khác trang phục, mũ hoặc huy hiệu trên mũ và lá cờ - là lực lượng của Mặt trận, phân biệt với quân ngoài Bắc) và được xem là hành động ủng hộ, hỗ trợ, giúp đỡ, chi viện cho miền Nam. Việc phân chia này không phải để chia tách lực lượng, mà nhằm tránh tạo cho Hoa Kỳ cái cớ để leo thang, đổ quân trực tiếp vào miền Nam.[cần dẫn nguồn]

Quân trang của một lính du kích ở miền Nam

Trên thực tế thì suốt cuộc Chiến tranh Việt Nam, các lực lượng quân giải phóng ở miền Nam ăn mặc không giống nhau và hay thay đổi tùy tình hình. Các lực lượng thường được phiên chế thành các lực lượng chịu sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền nam và Trung ương Cục miền Nam gồm các chỉ huy tại miền Nam, chịu trách nhiệm lãnh đạo thống nhất các chỉ thị từ cấp cao hơn là Quân ủy Trung ương đóng tại ngoài Bắc.[cần dẫn nguồn]

Sự phân biệt lực lượng vũ trang cách mạng ở miền nam gồm Quân đội nhân dân là "Quân đội bắc Việt Nam" với quân đội giải phóng là "quân Việt cộng" (miền nam) về bản chất là phiến diện, vì như đã nói ở trên, có những lực lượng quân địa phương miền Nam (Hoa Kỳ gọi là quân Việt Cộng) có người miền bắc và ngược lại, các lực lượng chính quy (Hoa Kỳ thường quy là "quân miền bắc") cũng có người miền nam (phần lớn là gửi ra Bắc huấn luyện sau đó lại vào nam chiến đấu). Trong chiến tranh thì các đơn vị quân đội luôn phiên chế khác nhau, khi sáp nhập, khi chia tách, hay bổ sung.[cần dẫn nguồn]

Trong thời gian chiến tranh, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa biết là chính xác đối phương đều là do Đảng Lao động Việt Nam chỉ đạo, nhưng thường là tỏ ra không biết để nhằm tuyên truyền gây chia rẽ. Sự không công khai chỉ đạo của Đảng (Bộ Chính trị ngoài Bắc và Trung ương Cục) của bên giải phóng và coi như không biết, luôn tỏ ra Mặt trận và miền Bắc "độc lập" của phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đều là những thủ thuật chính trị của hai bên. Một bên luôn không muốn bị đối phương xuyên tạc "xâm lược miền nam" để tạo Mặt trận một vị thế độc lập, một bên tuy biết thực chất là một (lãnh đạo chung, mục tiêu chung) nhưng cố tình không chỉ rõ để gây chia rẽ đội ngũ lãnh đạo bên cách mạng.[cần dẫn nguồn]

Tại miền Nam, các đảng viên cộng sản hoạt động trên danh nghĩa là đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng (nhưng thực tế là một bộ phận của Đảng Lao động). Quân khu V có thời gian được xem là biệt lập với Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang miền nam, và Khu ủy khu V không thuộc trung ương Cục, trong khi khu Trị Thiên do ngoài Bắc chỉ đạo trực tiếp. Tuy nhiên luôn có thay đổi liên tục cơ chế lãnh đạo trong thời gian chiến tranh.[cần dẫn nguồn]

Quân trang của một người lính thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam tại bảo tàng ở Hoa Kỳ (thật ra kiểu mũ đan lưới trong hình chỉ dùng trong chiến tranh chống Pháp và đã được thay thế từ năm 1958 bởi mũ cối và mũ tai bèo)

Cũng giống như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận và Chính phủ cách mạng lâm thời, về thực tế tuy là hai nhưng lại là một, do chịu sự chỉ đạo thống nhất của Đảng Lao động nên không có một lập trường nào riêng rẽ. Tuy nhiên về công khai, thì vẫn là hai sự khác biệt, với những tuyên ngôn khác nhau mang tính sách lược.[cần dẫn nguồn]

Nói chính xác thì chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận và Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam trên danh nghĩa là hai chính quyền của hai chính thể khác nhau, độc lập với nhau, có "quân đội riêng", nhưng cùng chịu sự chỉ đạo chung của Đảng Lao động Việt Nam. Trong hoàn cảnh chiến tranh, thì sự chỉ đạo của Đảng ở miền Nam (qua Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Trung ương Cục,v.v.) là không công khai hoặc công khai một phần.[cần dẫn nguồn]

Về phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa, một mặt lúc họ luôn gọi Mặt trận là cộng sản (Việt Cộng), lúc thì họ lại không hẳn coi như vậy. Bên phía Mặt trận thì không thừa nhận mình là cộng sản (thực tế tham gia Mặt trận thì không chỉ có những người cộng sản) và sự chỉ đạo của Đảng là bí mật, nhưng luôn khẳng định có chung lập trường đấu tranh chống ngoại xâm và thống nhất nước nhà với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[cần dẫn nguồn]

Sự công khai về sự lãnh đạo của Đảng sau này (hay những gì Hoa Kỳ họ biết trong thời gian chiến tranh) đều được phía Hoa Kỳ xem là "Miền Bắc" (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) can thiệp vào công việc nội bộ của "Miền Nam"... nhưng về phía Nhà nước Việt Nam thống nhất, thì xem đây là sự lãnh đạo của Đảng (không phải của riêng miền Bắc, cũng không phải riêng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) đối với cách mạng miền Nam và cả nước. Đối với những người ủng hộ cho đấu tranh giải phóng dân tộc thì hoàn toàn không có sự nhận thức Đảng Lao động là của riêng miền Bắc, cũng như giai đoạn trước 1954, thì Đảng đấu tranh chống Pháp cho toàn Đông Dương và Việt Nam. Điều này là hoàn toàn đúng, vì thực tế Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng nhưng thể chế hóa là thuộc về các cơ quan nhà nước (hay thời chiến tranh miền Nam là Mặt trận và Chính phủ Cách mạng Lâm thời).[cần dẫn nguồn]

Theo các tài liệu của Hoa Kỳ thì họ thường chia từ 1968 trở về trước lực lượng tham chiến chủ yếu là "Quân đội giải phóng", còn sau 1968 đến 1975 thì lực lượng tham chiến chủ yếu là "Quân đội nhân dân". Có sự phân chia này bởi sau 1968, Quân đội nhân dân Việt Nam chuyển từ đánh du kích là chủ yếu sang đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn bằng quân chủ lực. Sự phân chia này đối với Việt Nam chỉ mang tính đặc trưng cho chiến thuật sử dụng, còn bản chất lực lượng quân đội vẫn như trước. Thực tế thì sau Mậu Thân, các lực lượng tại chỗ bị tổn thất khá nặng, các lực lượng tuyển mộ tại chỗ biên chế về các lực lượng địa phương hay du kích để bổ sung khá đông, trong khi yêu cầu chiến tranh đòi hỏi các lực lượng được đào tạo bài bản hơn nên quân chủ lực phần lớn từ ngoài Bắc vào. Càng về cuối chiến tranh Miền Bắc càng công khai vai trò trong chiến tranh trên danh nghĩa giúp Mặt trận. Việc tách khu V về Trung ương và sau phân khu Trị - Thiên tách khỏi khu V về TW điều khiển trực tiếp cho thấy rõ điều này. Sau Hiệp định Paris, Trung ương Cục hoạt động công khai hơn.[cần dẫn nguồn]

Các chiến dịch, trận đánh tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Các chỉ huy quân sự tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Các chức danh Tư lệnh, Chính ủy, Tham mưu trưởng, Phó tư lệnh, chính ủy và các chức danh Bộ Tư lệnh Miền ban đầu chỉ huy trực tiếp trên chiến trường Miền Nam, và từ 1964 trực tiếp trên địa bàn B2.

Tư lệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu chỉ huy trực tiếp trên chiến trường Miền Nam, và từ 1964 trực tiếp trên địa bàn B2[cần dẫn nguồn]

STT Tên (Bí danh) Giai đoạn Các chức vụ khác
1 Trần Văn Quang (Bảy Tiến) 1961-1963 Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Trị - Thiên (1966-1973)
2 Trần Văn Trà (Tư Chi) 1963-1967 Phó Bí thư Quân ủy, Phó tư lệnh Miền (1968-1972)
3 Hoàng Văn Thái (Mười Khang) 1967-1973 Phó Bí thư Quân ủy (1967-1973), Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 (1966-1967)
* Trần Văn Trà (Tư Chi) 1973-1975 Phó Bí thư Quân ủy, Phó tư lệnh Miền (1968-1972)


Chính ủy[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Nghị quyết tháng 1 năm 1961 của Tổng Quân ủy, chức vụ này có tên gọi chính thức là Bí thư Quân ủy Miền. Ban đầu chỉ huy trực tiếp trên chiến trường Miền Nam, và từ 1964 trực tiếp trên địa bàn B2. {{fact}

STT Tên (Bí danh) Giai đoạn Các chức vụ khác
1 Phạm Thái Bường (Ba Bường) 1961-1962 Bí thư Khu ủy 9 (1969-1974), Ủy viên thường vụ Trung ương Cục miền Nam (1965-1974)
2 Trần Nam Trung (Hai Hậu) 1962-1964 Ủy viên Quốc phòng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (1961-1976)
Bộ trưởng Quốc phòng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (1969-1976)
3 Nguyễn Chí Thanh (Sáu Di) 1964-1967 Bí thư Trung ương Cục miền Nam (1964-1967)
4 Phạm Hùng (Hai Hùng) 1967-1975 Bí thư Trung ương Cục miền Nam (1967-1975)

Tham mưu trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu chỉ huy trực tiếp trên chiến trường Miền Nam, và từ 1964 trực tiếp trên địa bàn B2{{fact}

STT Tên (Bí danh) Giai đoạn Các chức vụ khác
1 Lê Đức Anh (Sáu Nam) 1965-1969 Tư lệnh Quân khu 3 (1969-1974)
Phó Tư lệnh Miền (1974-1975)
2 Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà) 1969-1970 Tư lệnh Quân khu 6 (1963-1969), Tham mưu phó Miền (1970-1974)
3 Hoàng Cầm (Năm Thạch) 1970-1974 Tư lệnh Công trường 9
4 Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà) 1974-1975 Tư lệnh Quân khu 6 (1963-1969), Tham mưu phó Miền (1970-1974)


Các chỉ huy cao cấp khác[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Thị Định, nữ tướng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
STT Tên (Bí danh) Chức vụ
1 Nguyễn Thị Định (Ba Định) Phó tư lệnh Miền (1965-1975)
2 Đồng Văn Cống (Bảy Cống) Tư lệnh Quân khu 3 (1964-1968)
Phó tư lệnh Miền (1965-1972)
Tư lệnh Quân khu 1 (1972-1975)
3 Nguyễn Hữu Xuyến (Tám Kiến Quốc) Phó tư lệnh Miền (1965-1974)
4 Lê Trọng Tấn (Ba Long) Phó tư lệnh Miền (1965-1971)
5 Trần Độ (Chín Vinh) Phó chính ủy Miền (1965-1974)
6 Trần Quý Hai Tư lệnh B5 (1968, 1971-1972)
6 Lê Quang Đạo Chính ủy B5 (1968, 1971-1972)
7 Chu Huy Mân Tư lệnh Quân khu 5 (1967-1975)
8 Lê Văn Tưởng (Hai Chân) Chủ nhiệm Chính trị Miền (1961-1965, 1967-1975), Chính ủy Công trường 9 (1965-1967), Phó chính ủy Miền (1972-1975)
9 Trần Văn Nghiêm (Hai Nghiêm) Tham mưu phó Miền (1965-1975)
10 Đàm Văn Ngụy Tư lệnh Công trường 7 (1972-1973)
11 Nguyễn Hòa Phó tư lệnh B5 (1967-1968), Tư lệnhCông trường 5 (1965-1966), Công trường 7 (1966-1967)
11 Dương Cự Tẩm Cục phó Chính trị Miền (1964-1966), Chính ủy Công trường 7 (1966-1967), Phó chính ủy Quân khu 3 (1968-1969), Chính ủy [[Quân khu 2 (1969-1974), Chính ủy Quân khu 7 (1974)
12 Lê Tự Đồng Chính ủy B5 (1969–1972), Chính ủy Quân khu Trị Thiên (1972-1975), Tư lệnh Quân khu Trị Thiên (1974-1975)
12 Đoàn Khuê Phó chính ủy Quân khu 5 (1963-1975)
12 Trần Văn Phác (Tám Trần) Chủ nhiệm Chính trị Bộ tư lệnh miền
13 Bùi Phùng Chủ nhiệm Hậu cần Bộ tư lệnh Miền
14 Nguyễn Thành Thơ (Mười Khẩn) Tư lệnh Quân khu 3 (1961-1964)
15 Nguyễn Văn Bé (Tám Tùng) Chính ủy Quân khu 3

Phân chia địa bàn tác chiến[sửa | sửa mã nguồn]

TW Đảng, Quân ủy TW, Bộ Tổng tư lệnh phân chia các chiến trường, chiến trường Miền Nam gọi là B, và phân B1,B2 (1961) sau có thêm B3 (Tây Nguyên)-1964,4 (Trị Thiên),5 (Đường 9 - Bắc Quảng Trị)-1966 tách ra từ B1, trong đó B1 (và sau 3,4,5) do TW trực tiếp chỉ huy từ 1964, và phân TW Cục Miền Nam, Quân ủy Miền, Bộ tư lệnh Miền phụ trách trực tiếp B2 từ 1964. TW Đảng, quân ủy TW cũng chia thành các quân khu ở miền Nam, theo đó trên địa bàn B1 có các quân khu 5 (1961) và Trị Thiên tách ra từ Quân khu 5 năm 1966, và đều do TW trực tiếp chỉ huy, tương ứng với phân chia đảng bộ (từ 1964 đảng bộ khu 5 do TW trực tiếp chỉ đạo, sau đó đảng bộ Khu Trị Thiên tách khỏi khu 5 năm 1966 do Tw chỉ đạo. Như vậy phân chia B3 khỏi B1 năm 1964 và B4,5 năm 1966 không có ý nghĩa với chỉ đạo cấp ủy đảng với địa bàn theo thẩm quyền, B3 vẫn nằm trong khu 5 và B4,5 vẫn nằm trong khu Trị Thiên về mặt đảng. Ở B2, từ 1961 TW chia thành các quân khu 6,7,8,9,10, Sài Gòn - Gia Định, tương ứng có các khu ủy. TW Cục Miền Nam, Quân ủy miền Nam và Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng Miền nam Việt Nam lại chia thành các Quân khu đánh số từ 1 đến 7, 10 và khu trọng điểm, trên toàn miền nam. Quân khu 2 trùng với Quân khu 8 của TW, Quân khu 3 trùng với Quân khu 9 ở TW... Sở dĩ có sự phân chia khác nhau này là do sự phân chia của TW là thực chất nhưng lại không thể công khai trong một thời gian dài, còn phân chia TW Cục thì trong nhiều thời gian lại không có ý nghĩa về thực chất.

Các đơn vị chủ lực[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sư đoàn 1 (chủ lực B3, thành lập tháng 12 năm 1965, giải thể cuối 1969, tái lập tháng 12 năm 1972, giải thể tháng 12 năm 1973)
  • Sư đoàn 2 (chủ lực Khu 5, thành lập tháng 10 năm 1965)
  • Sư đoàn 3 (chủ lực Khu 5, thành lập tháng 9 năm 1965)
  • Sư đoàn 3 (chủ lực Miền, thành lập tháng 8 năm 1974)
  • Sư đoàn 4 (chủ lực Khu 9, thành lập tháng 8 năm 1974)
  • Sư đoàn 5 (chủ lực Miền, thành lập tháng 11 năm 1965)
  • Sư đoàn 5 (chủ lực Khu 5, tháng 9 năm 1965, giải thể cuối năm 1968)
  • Sư đoàn 6 (chủ lực B3, thành lập tháng 11 năm 1965, giải thể tháng 8 năm 1966, tái lập tháng 4 năm 1968, giải thể cuối năm 1968)
  • Sư đoàn 6 (chủ lực Khu 7, thành lập tháng 11 năm 1974)
  • Sư đoàn 7 (chủ lực Miền, thành lập tháng 9 năm 1965)
  • Sư đoàn 8 (chủ lực Khu 9, thành lập tháng 10 năm 1974)
  • Sư đoàn 9 (chủ lực Miền, thành lập tháng 9 năm 1965)
  • Sư đoàn 10 (chủ lực B3, thành lập tháng 9 năm 1972)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]