Quả bóng vàng Châu Âu
| Quả bóng vàng Châu Âu | |
|---|---|
Quả bóng vàng Châu Âu được trao cho Zinedine Zidane năm 1998. |
|
| Trao cho | Cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất trong năm |
| Tổ chức trao giải | France Football |
| Lần đầu tiên | 1956 |
| Lần cuối cùng | 2010 |
| Website | francefootball.fr |
Quả bóng vàng Châu Âu (tiếng Pháp: Ballon d'Or) là một giải thưởng bóng đá thường niên được trao cho cầu thủ xuất sắc nhất trong năm do tạp chí France Football tổ chức. Giải thưởng này xuất phát từ ý tưởng của phóng viên thể thao Gabriel Hanot, người đã đề nghị các đồng nghiệp của mình bình chọn cho cầu thủ chơi hay nhất tại châu Âu trong năm 1956. Người đầu tiên nhận danh hiệu này là Stanley Matthews, cầu thủ người Anh của câu lạc bộ Blackpool.[1]
Ban đầu, các phóng viên chỉ bình chọn cho những cầu thủ người châu Âu đang chơi tại các câu lạc bộ châu Âu, có nghĩa những cầu thủ như Diego Maradona hay Pelé sẽ không đủ tiêu chuẩn để được bình bầu.[2] Từ năm 1995, luật bình chọn đã thay đổi, cho phép các cầu thủ ngoài châu Âu cũng có cơ hội nhận giải nếu họ đang chơi cho một câu lạc bộ tại châu Âu. Người ngoài châu Âu đầu tiên nhận được danh hiệu Quả bóng vàng ngay vào năm 1995 là George Weah, cầu thủ người Liberia thi đấu cho câu lạc bộ A.C. Milan.[3] Năm 2007, luật bình chọn của giải thưởng lại một lần nữa thay đổi. Các cầu thủ từ tất cả các quốc gia, tất cả các câu lạc bộ đều có cơ hội nhận giải. Cùng với sự thay đổi này, số lượng phóng viên tham gia bình chọn cũng tăng lên, 96 nhà báo từ khắp thế giới đã chọn ra 5 cầu thủ xuất sắc nhất, so với con số 52 nhà báo châu Âu vào năm 2006.[4]
Từ khi Quả bóng vàng Châu Âu được trao giải, đã có ba cầu thủ nhận được vinh dự này ba lần, đó là Johan Cruyff, Michel Platini và Marco van Basten. Platini là cầu thủ duy nhất nhận được giải thưởng trong ba năm liên tiếp, 1983, 1984 và 1985.[1] Ronaldo trở thành cầu thủ người Brasil đầu tiên nhận Quả bóng vàng vào năm 1997.[3] Trong suốt lịch sử của Quả bóng vàng Châu Âu, chỉ có một thủ môn duy nhất nhận được giải thưởng này là Lev Yashin, thủ thành người Nga được trao giải vào năm 1963.[5] Với 7 giải thưởng, Hà Lan và Đức là hai quốc gia có nhiều cầu thủ đạt danh hiệu này nhất. Trên phương diện câu lạc bộ, Juventus, A.C. Milan và Barcelona là những đội bóng sở hữu nhiều Quả bóng vàng nhất khi có tới 8 giải thưởng từng trao cho các cầu thủ khi họ đang chơi cho những câu lạc bộ này.[6] Cầu thủ hiện giữ danh hiệu Quả bóng vàng Châu Âu 2010 là Lionel Messi, người Argentina thứ ba nhận giải nhưng lại là người đầu tiên với tư cách công dân Argentina.[7]
Kể từ năm 2010, hai giải thưởng bóng đá danh giá Quả bóng vàng Châu Âu và Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA được hợp nhất thành Quả bóng vàng FIFA và nam cầu thủ đầu tiên nhận danh hiệu này là Lionel Messi.[8]
Mục lục |
Danh sách [sửa]
Cầu thủ [sửa]
| Cầu thủ | Số giải thưởng | Năm |
|---|---|---|
| 3 | 1971, 1973, 1974 | |
| 3 | 1983, 1984, 1985 | |
| 3 | 1988, 1989, 1992 | |
| 2 | 1957, 1959 | |
| 2 | 1972, 1976 | |
| 2 | 1978, 1979 | |
| 2 | 1980, 1981 | |
| 2 | 1997, 2002 |
Quốc gia [sửa]
| Quốc gia | Cầu thủ | Số giải thưởng |
|---|---|---|
| 5 | 7 | |
| 3 | 7 | |
| 4 | 6 | |
| 4 | 5 | |
| 4 | 5 | |
| 5 | 5 | |
| 2 | 3 | |
| 3 | 3 | |
| 3 | 3 | |
| 2 | 2 | |
| 1 | 2 | |
| 1 | 1 | |
| 1 | 1 | |
| 1 | 1 | |
| 1 | 1 | |
| 1 | 1 | |
| 1 | 1 | |
| 1 | 1 |
Câu lạc bộ [sửa]
| Câu lạc bộ | Cầu thủ | Số giải thưởng |
|---|---|---|
| 7 | 8 | |
| 6 | 8 | |
| 6 | 8 | |
| 4 | 5 | |
| 3 | 5 | |
| 4 | 4 | |
| 2 | 2 | |
| 2 | 2 | |
| 1 | 2 | |
| 1 | 1 | |
| 1 | 1 | |
| 1 | 1 | |
| 1 | 1 | |
| 1 | 1 | |
| 1 | 1 | |
| 1 | 1 | |
| 1 | 1 | |
| 1 | 1 | |
| 1 | 1 |
Ghi chú [sửa]
A. ab Sinh tại Argentina, Alfredo Di Stefano nhập quốc tịch Tây Ban Nha vào năm 1956, sau đó chơi cho Đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha.[9]
B. ^ Sinh tại Argentina, Omar Sívori nhập quốc tịch Ý vào năm 1961, sau đó chơi cho Đội tuyển quốc gia Ý.[10]
C. ^ Johan Cruyff chuyển từ Ajax Amsterdam tới Barcelona giữa 1973.[11]
D. ^ Gary Lineker chuyển từ Everton tới Barcelona giữa 1986.
E. ^ Ruud Gullit chuyển từ PSV Eindhoven tới Milan giữa 1987.[12]
F. ^ Paulo Futre chuyển từ FC Porto tới Atlético Madrid giữa 1987.
G. ^ Frank Rijkaard chuyển từ Real Zaragoza tới Milan giữa 1988.
H. ^ George Weah chuyển từ Paris Saint-Germain tới Milan giữa 1995.[13]
I. ^ Ronaldo chuyển từ Barcelona tới Inter Milan giữa 1997.[14]
J. ^ Luís Figo chuyển từ Barcelona tới Real Madrid giữa 2000.[15]
K. ^ Ronaldo chuyển từ Inter Milan tới Real Madrid giữa 2002.[16]
L. ^ Deco chuyển từ Porto tới Barcelona giữa 2004.
M. Fabio Cannavaro chuyển từ Juventus tới Real Madrid giữa 2006.[17]
N. ^ Cristiano Ronaldo chuyển từ Manchester United tới Real Madrid giữa 2009.[18]
Tham khảo [sửa]
- Tham khảo chung
- “European Footballer of the Year ("Ballon d'Or")”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. 9 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- Chú thích
- ^ a b “Ronaldo joins legendary list”. BBC. 1 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ “Matthews wins first Golden Ball”. BBC. 1 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ a b “The 1990s Ballon d'Or winners”. BBC. 1 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ “Kaka wins 2007 award”. BBC. 1 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ “Yashin, the impregnable Spider”. FIFA Classic Player (FIFA). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ “Rankings by Wins”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. 9 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ “Messi obtiene el Balón de oro 2009”. El Economista. 1 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ “The FIFA Ballon d’Or is born”. FIFA. 5 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ “The list: The best footballers to have never played in the World Cup”. Daily Mail. 4 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ “Barcelona forward Lionel Messi wins Ballon d'Or award”. uefa.com. BBC. 1 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ “Johan Cruyff”. Laureus. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ “Sexy football to sexy golf, Gullit shows his class”. The Scotsman (Johnston Press Digital Publishing). 4 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ Harris, Nick (7 tháng 12 năm 2004). “George Weah: favourite to win biggest battle - leading his country off the field”. The Independent (Associated Press). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ “Fast facts on Ronaldo”. Sports Illustrated. Reuters. 31 tháng 8 năm 2002. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ Nash, Elizabeth (25 tháng 7 năm 2000). “Figo defects to Real Madrid for record £37.2m”. The Independent (Associated Press). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ “Real ropes Ronaldo”. Sports Illustrated. Associated Press. 31 tháng 8 năm 2002. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ “Real sign Cannavaro and Emerson”. BBC Sport. 19 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ^ “Man Utd accept £80m Ronaldo bid”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 11 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Quả bóng vàng Châu Âu. |
- Quả bóng vàng Châu Âu trên trang của tạp chí France Football
|
|||||