Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quận 7
Quận
VN-F-HC-Q7 position in city core.png
Vị trí Quận 7 trong Thành phố Hồ Chí Minh
Địa lý
Tọa độ: 10°44′19″B 106°43′35″Đ / 10,73861°B 106,72639°Đ / 10.73861; 106.72639Tọa độ: 10°44′19″B 106°43′35″Đ / 10,73861°B 106,72639°Đ / 10.73861; 106.72639
Diện tích 36 km2[1]
Dân số (2010)  
 Tổng cộng 274.828 người[1]
 Mật độ 7.700 người/km²[1]
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đông Nam Bộ
Tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh
Thành lập 27 tháng 5 năm 1959
 Chủ tịch UBND Nguyễn Thanh Triều
 Trụ sở UBND 7 Đường Tân Phú Phường Tân Phú Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Phân chia hành chính Quận có 10 phường.
Mã hành chính 778[2]
Website Trang chính thức

Quận 7 là quận thuộc địa phận Thành phố Hồ Chí Minh, từng là một phần của huyện Nhà Bè trước kia. Quận 7 nổi tiếng với khu chế xuất Tân Thuận, công viên giải trí Wonderland, và Khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng.(Khu đô thị Nam Sài Gòn)

Góc nhìn từ Khu Hồ Bán Nguyệt sang Khu Kênh Đào, ở giữa là cầu Ánh Sao.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Chuỗi chung cư Nam Khang thuộc khu Nam Viên.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Địa bàn quận 7 từ năm 1997 đến nay khác hẳn với quận 7 cũ trước năm 1976.

Quận 7 cũ, trước năm 1976[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 27 tháng 3 năm 1959, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định số 110-NV về việc phân chia sáu quận đang có của Đô thành Sài Gòn thành tám quận mới: Nhứt, Nhì, Ba, Tư, Năm, Sáu, Bảy và Tám (trừ ba quận: Nhứt, Nhì, Ba giữ nguyên, các quận còn lại đều đổi tên và thay đổi địa giới hành chính). Lúc này, quận 7 (quận Bảy) trùng với một phần địa giới của quận 5 cũ.

Năm 1959, quận Bảy có 06 phường: Bến Đá, Bình Đông, Cây Sung, Hàng Thái, Phú Định, Rạch Cát. Sự phân chia hành chính này vẫn giữ nguyên cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975.

Giai đoạn 1975-1976[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản Đô thành Sài Gòn và các vùng lân cận vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày 3 tháng 5 năm 1975 thành phố Sài Gòn - Gia Định được thành lập. Lúc này, quận 7 (quận Bảy) thuộc thành phố Sài Gòn - Gia Định cho đến tháng 5 năm 1976.

Ngày 20 tháng 5 năm 1976, tổ chức hành chánh thành phố Sài Gòn - Gia Định được sắp xếp lần hai (theo quyết định số 301/UB ngày 20 tháng 5 năm 1976 của Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố Sài Gòn - Gia Định). Theo đó, quận Bảy và quận Tám cũ hợp nhất lại thành quận 8 cho đến ngày nay. Như vậy quận 7 cũ bị giải thể vào năm 1976.

Quận 7 mới, từ năm 1997 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 6 tháng 1 năm 1997, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 03-CP[3] về việc thành lập các quận, phường mới thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung về việc thành lập Quận 7 và các phường thuộc Quận 7 như sau:

1.Thành lập Quận 7 trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các xã Tân Quy Đông, Tân Quy Tây, Tân Thuận Đông, Tân Thuận Tây, Phú Mỹ, 337 ha diện tích tự nhiên và 6.636 nhân khẩu của thị trấn Nhà Bè, thuộc huyện Nhà Bè.

Quận 7 có 3.576 ha diện tích tự nhiên và 90.920 nhân khẩu.

2. Thành lập các phường thuộc Quận 7:

a) Thành lập phường Phú Mỹ trên cơ sở 373 ha diện tích tự nhiên và 6.636 nhân khẩu của thị trấn Nhà Bè.

Phường Phú Mỹ có 373 ha diện tích tự nhiên và 6.674 nhân khẩu.

b) Thành lập phường Phú Thuận trên cơ sở 786 ha diện tích tự nhiên và 6.699 nhân khẩu của xã Phú Mỹ; 43 ha diện tích tự nhiên và 129 nhân khẩu của thị trấn Nhà Bè.

Phường Phú Thuận có 829 ha diện tích tự nhiên và 6.828 nhân khẩu..

c) Thành lập phường Tân Phú trên cơ sở 459 ha diện tích tự nhiên và 6.892 nhân khẩu của xã Phú Mỹ.

Phường Tân Phú có 459 ha diện tích tự nhiên và 6.892 nhân khẩu.

d) Thành lập phường Tân Thuận Đông trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Tân Thuận Đông, gồm 812 ha và 12.228 nhân khẩu.

e) Thành lập phường Bình Thuận trên cơ sở 149 ha diện tích tự nhiên và 4.181 nhân khẩu của xã Tân Thuận Tây; 16 ha diện tích tự nhiên và 1.902 nhân khẩu của xã Tân Quy Đông.

Phường Bình Thuận có 165 ha diện tích tự nhiên và 6083 nhân khẩu.

f) Thành lập phường Tân Thuận Tây trên cơ sở 105 ha diện tích tự nhiên và 14.365 nhân khẩu của xã Tân Thuận Tây.

Phường Tân Thuận Tây có 105 ha diện tích tự nhiên và 14.365 nhân khẩu.

g) Thành lập phường Tân Kiểng trên cơ sở 49,37 ha diện tích tự nhiên và 3.790 nhân khẩu của xã Tân Quy Tây; 16,4 ha diện tích tự nhiên và 5.683 nhân khẩu của xã Tân Quy Đông; 31,23 ha diện tích tự nhiên và 2.373 nhân khẩu của xã Tân Thuận Tây.

Phường Tân Kiểng có 97 ha diện tích tự nhiên và 11.846 nhân khẩu.

h) Thành lập phường Tân Quy trên cơ sở 86 ha diện tích tự nhiên và 9.265 nhân khẩu của xã Tân Quy Đông.

Phường Tân Quy có 86 ha diện tích tự nhiên và 9.265 nhân khẩu.

i) Thành lập phường Tân Phong trên cơ sở 290 ha diện tích tự nhiên và 4.044 nhân khẩu của xã Tân Quy Đông; 100 ha diện tích tự nhiên và 680 nhân khẩu của xã Tân Quy Tây; 40 ha diện tích tự nhiên và 33 nhân khẩu của xã Phú Mỹ.

Phường Tân Phong có 430 ha diện tích tự nhiên và 4.757 nhân khẩu.

k) Thành lập phường Tân Hưng trên cơ sở 220 ha diện tích tự nhiên và 12.020 nhân khẩu của xã Tân Quy Tây.

Phường Tân Hưng có 220 ha diện tích tự nhiên và 12.020 nhân khẩu.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn quận có 10 phường:

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Quận 7 có vị trí chiến lược trong khai thác giao thông thuỷ và đường bộ, đồng thời đây cũng là cửa ngõ phía Nam của Thành phố Hồ Chí Minh, là cầu nối mở hướng phát triển của thành phố với biển Đôngthế giới. Với những giá trị đó, quận 7 có điều kiện thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Khu chế xuất Tân Thuận trên địa bàn quận là một trong những khu chế xuất lớn và hiệu quả nhất của thành phố.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]