Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quận 8
Quận
VN-F-HC-Q8 position in city core.png
Vị trí quận 8 trong Thành phố Hồ Chí Minh
Địa lý
Tọa độ: 10°43′24″B 106°37′40″Đ / 10,72333°B 106,62778°Đ / 10.72333; 106.62778Tọa độ: 10°43′24″B 106°37′40″Đ / 10,72333°B 106,62778°Đ / 10.72333; 106.62778
Diện tích 19,18 km²[1]
Dân số (2011)  
 Tổng cộng 421.547 người
 Thành thị 100%
 Mật độ

21.978

người/km²
Dân tộc Việt (84,4%), Hoa (11%)
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đông Nam Bộ
Tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh
 Chủ tịch UBND Nguyễn Thành Chung
 Trụ sở UBND 4 Phạm Thế Hiển, Đường 1011 Phường 05, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh
Phân chia hành chính Toàn quận có 16 phường[1].
Mã hành chính 776[1]
Website Trang chính thức

Quận 8 là một quận nội thành, nằm ở phía tây nam của Thành phố Hồ Chí Minh. Quận 8 có hình dáng thon dài theo hướng Đông Bắc-Tây Nam vì bị chia cắt mạnh bởi một hệ thống kênh rạch chằng chịt.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phía Bắc giáp Quận 5Quận 6 với ranh giới tự nhiên là kênh Tàu Hũ và kênh Ruột Ngựa.
  • Phía Đông giáp Quận 4Quận 7 với ranh giới tự nhiên là rạch Ông Lớn.
  • Phía Tây giáp Quận Bình Tân.
  • Phía Nam giáp Huyện Bình Chánh, ranh giới không rõ ràng vì đây là vùng trũng và nhiều đồng ruộng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Địa danh Quận 8 chỉ mới xuất hiện các đây gần nửa thế kỷ, nhưng địa bàn của Quận 8 ngày nay đã có cách đây trên 300 năm cùng với lịch sử vùng đất Gia Định lúc bấy giờ khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam lập ra phủ Gia Định với 2 huyện Phước Long và Tân Bình, thì vùng Quận 8 lúc bây giờ thuộc về địa bàn Tân Long, huyện Tân Bình.

Trước năm 1976, địa bàn quận 8 ngày nay bao gồm quận 7 và quận 8 cũ.

Thời Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 27 tháng 3 năm 1959, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định số 110-NV về việc phân chia sáu quận đang có của Đô thành Sài Gòn thành tám quận mới: Nhứt, Nhì, Ba, Tư, Năm, Sáu, Bảy và Tám (trừ ba quận: Nhứt, Nhì, Ba giữ nguyên, các quận còn lại đều đổi tên và thay đổi địa giới hành chính):

  • Quận 7 (quận Bảy): một phần địa giới của quận 5 cũ; có 06 phường: Bến Đá, Bình Đông, Cây Sung, Hàng Thái, Phú Định, Rạch Cát;
  • Quận 8 (quận Tám): phần địa giới thuộc quận 4 cũ, phía nam Kênh Tàu Hủ; có 05 phường: Bình An, Chánh Hưng, Hưng Phú, Rạch Ông, Xóm Củi.

Sự phân chia hành chính này của quận Bảy và quận Tám vẫn giữ nguyên cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975.

Từ năm 1975 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản Đô thành Sài Gòn và các vùng lân cận vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày 3 tháng 5 năm 1975 thành phố Sài Gòn - Gia Định được thành lập. Lúc này, quận 7 (quận Bảy) và quận 8 (quận Tám) cùng thuộc thành phố Sài Gòn - Gia Định cho đến tháng 5 năm 1976.

Ngày 20 tháng 5 năm 1976, tổ chức hành chánh thành phố Sài Gòn - Gia Định được sắp xếp lần hai (theo quyết định số 301/UB ngày 20 tháng 5 năm 1976 của Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố Sài Gòn - Gia Định). Theo đó, quận Bảy và quận Tám cũ hợp nhất lại thành quận 8 cho đến ngày nay. Lúc này, các phường cũ đều giải thể, lập các phường mới có diện tích, dân số nhỏ hơn và mang tên số. Quận 8 chia ra 22 phường, đánh số từ 1 đến 22.

Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VI, kỳ họp thứ 1 chính thức đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Quận 8 trở thành quận trực thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 14 tháng 2 năm 1987, theo Quyết định số 33-HĐBT[2] của Hội đồng Bộ trưởng, quận 8 giải thể 22 phường hiện hữu, thay thế bằng 16 phường mới, đánh số từ 1 đến 16. Sự phân chia đơn vị hành chính này giữ ổn định cho đến ngày nay:

1.Sáp nhập 1 phần phường 3 cũ với phường 2 cũ thành 1 phường lấy tên là phường 2.

2. Sáp nhập phần còn lại của phường 3 cũ với phường 4 cũ thành 1 phường lấy tên là phường 3.

3. Sáp nhập phường 5 cũ với phường 6 cũ và một phần phường 7 cũ thành 1 phường lấy tên là phường 4.

4. Sáp nhập phần còn lại của phường 7 cũ với phường 8 cũ thành 1 phường lấy tên là phường 5.

5. Đổi tên phường 9 cũ thành phường 6.

6. Đổi tên phường 22 cũ thành phường 7.

7. Đổi tên phường 10 cũ thành phường 8.

8. Sáp nhập một phần phường 12 cũ với phường 11 cũ thành 1 phường lấy tên là phường 9.

9. Sáp nhập phần còn lại của phường 12 cũ với phường 13 cũ thành 1 phường lấy tên là phường 10.

10. Sáp nhập phường 15 cũ, 1 phần phường 16 cũ với phường 14 cũ thành một phường lấy tên là phường 11.

11. Sáp nhập phần còn lại của phường 15 cũ với phường 17 cũ thành 1 phường lấy tên là phường 12.

12. Đổi tên phần còn lại của phường 16 cũ thành phường 13.

13. Sáp nhập 1 phần phường 19 cũ với phường 18 cũ thành 1 phường lấy tên là phường 14.

14. Sáp nhập phần còn lại của phường 19 cũ với phường 20 cũ thành 1 phường lấy tên là phường 15.

15. Đổi tên phường 21 cũ thành phường 16.

Thông tin thêm về các phường[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phường Rạch Ông cũ: các phường 1, 2 và 3 hiện nay
  • Phường Chánh Hưng cũ: các phường 4 và 5 hiện nay
  • Phường Bình An cũ: phường 6 hiện nay
  • Phường Hưng Phú cũ: các phường 8, 9 và 10 hiện nay
  • Phường Xóm Củi cũ: các phường 11, 12 và 13 hiện nay
  • Phường Hàng Thái và phường Bến Đá cũ (thuộc quận 7 cũ): phường 7 hiện nay
  • Phường Cây Sung cũ (thuộc quận 7 cũ): phường 14 hiện nay
  • Phường Bình Đông và phường Rạch Cát cũ (thuộc quận 7 cũ): phường 15 hiện nay
  • Phường Phú Định cũ (thuộc quận 7 cũ): phường 16 hiện nay

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Quận 8 được chia làm 16 phường, được đánh số theo thứ tự từ phường 1 đến phường 16[3]:

Phường 1 Phường 9
Phường 2 Phường 10
Phường 3 Phường 11
Phường 4 Phường 12
Phường 5 Phường 13
Phường 6 Phường 14
Phường 7 Phường 15
Phường 8 Phường 16
Một dãy nhà xây bên dòng kênh Tàu Hũ thuộc quận 8.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Cư dân của Quận 8 đông nhất là người Kinh chiếm khoảng 85,4%, người Hoa cũng có mặt ở Quận 8 từ rất sớm với tỷ lệ khoảng hơn 11%; ngoài ra còn có người Chăm, Khơ-me chiếm khoảng hơn 0,3%. Các tầng lớp dân cư ở Quận 8 phần lớn theo đạo Phật (35%) với 52 chùa được xây dựng khắp nơi. Một số tôn giáo khác cũng không ít tín đồ như: đạo Thiên Chúa (11,5%) với 12 nhà thờ, Tin Lành (0,4%) có 5 nhà thờ, Cao Đài (0,48%) có 2 thánh thất, Đạo Hồi (0,52%) có 2 thánh đường…

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]