Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quận 9
Quận
VN-F-HC-Q9 position in city core.png
Địa lý
Tọa độ: 10°49′49″B 106°49′3″Đ / 10,83028°B 106,8175°Đ / 10.83028; 106.81750Tọa độ: 10°49′49″B 106°49′3″Đ / 10,83028°B 106,8175°Đ / 10.83028; 106.81750
Diện tích 114 km2[1]
Dân số (2010)  
 Tổng cộng 263.486 người[1]
 Mật độ 2.311 người/km2[1]
Dân tộc Kinh, người nước ngoài...
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đông Nam Bộ
Thành phố Hồ Chí Minh
Thành lập 1976
 Chủ tịch UBND Nguyễn Hữu Việt
Phân chia hành chính 13 phường[2]
Mã hành chính 763[2]
Website Quận 9

Quận 9 là một quận ngoại ô của Thành phố Hồ Chí Minh. Quận được thành lập theo Nghị định số 03-CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 6 tháng 1, 1997 tách ra từ huyện Thủ Đức cũ.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Quận 9 ngày nay cách trung tâm thành phố khoảng 7 km theo xa lộ Hà Nội.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Quận 9 được chia thành 13 phường[2]:

Vương quốc cá sấu ở Suối Tiên, nơi nuôi 15.000 con cá sấu. Phía trên là tàu điện lượn và bánh xe khổng lồ

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quận 9 vốn là vùng đất hoang rừng rậm, thú rừng sống thành từng đàn, dân cư thưa thớt, hầu hết sống trên vùng cao chuyên các nghề nương rẫy, chăn nuôi và săn bắt, không quen làm lúa nước.

Đến thế kỷ 15, sau khi cuộc kháng chiến chống quân Minh của nhà hậu Trần thất bại, tàn quân rút vào thuận hóa là tuyệt lộ, một số bỏ chạy sang lào, một số qua Chiêm Thành, số còn lại xuống phía Nam, cũng giống như hơn 200 sau tàn quân Long Môn của nhà Thanh, số người này đã bắt tay vào việc khai phá rừng rậm, cuốc xới sình lầy, gieo trồng lúa nước là ngành nông nghiệp và sống chung hoà hợp với dân bản địa, tạo thành một cộng đồng dân cư ngày càng đông đảo.

Biển Tiên Đồng và tượng Lạc Long Quân ở Suối Tiên.

Từ năm 1623, để mở rộng giang sơn các chúa Nguyễn đã tạo mối thiện cảm đối với triều đại Chân Lạp, để đưa dân cư từ vùng Thuận Quàng vào lập nghiệp. Đến năm 1698 chúa Nguyễn Phúc Chu sai Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào đây kinh lý, lấy đất Đồng Nai lập ra phủ Gia Định, lấy đất Đông phố lập huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, đất Sài Gòn lập huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đặt quan chức cai trị hành chánh, quân lính trong coi về quốc phòng[3].

Năm 1808, năm Gia Long thứ 7 huyện Phước Long được nâng thành bốn huyện Phước Long được nâng lên phủ Phước Long, bốn tổng được nâng lên thành 4 huyện. Mỗi huyện được chia làm 2 tổng Long VĩnhThành Thành Tuy, lấy hai chữ tên huyện đặt lên đầu tên hai tổng, quận 9 lúc đó thuộc tổng Long Vĩnh[3].

Năm 1821, Qua triều Minh Mạng, năm thứ 2, địa bàn hai tổng được chia làm bốn tổng. Năm 1836 vua Minh Mạng mới củ phái bộ Trương Đăng Quế, Trương Minh Giảng thực hiện công cuộc đo đạc toàn thể ruộng đất trên cả sáu tỉnh Nam Kỳ. Từ đó các thôn phường mới có địa bộ chính thức.

Năm 1837, Đời vua Minh Mạng thứ 18, ranh giới hành chánh của tỉnh Biên Hòa có sự thay đổi. Hai Huyện Long ThànhPhước An được tách ra khỏi phủ Phước Long để thành lập phủ mới lấy tên là Phước Tuy. Tình trạng đó kéo dài mãi cho tới khi người Pháp đánh chiếm tỉnh Biên Hòa, thành lập chính quyền thực dân.

Năm 1862, theo hòa ước Nhâm Tuất, sau khi được làm chủ ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ người Pháp muốn thi hành chính sách trực trị, bèn bỏ hết cấp tỉnh, phủ, huyện chia địa bàn tỉnh thành 13 địa hạt (Arrondisements), trong đó tỉnh Biên Hòa cũ được chia làm 5 địa hạt.

Năm 1867, sau khi chiếm trọn Sáu tỉnh Nam Kỳ, người Pháp chia toàn địa bàn 24 đơn vị hành chính gọi là hạt thanh tra (Inspections), sau đổi thành tham biện (Administrateur). Nơi trụ sở gọi là tòa tham biện, người Việt quen gọi là tòa Bố. Ngày 05 tháng 6 năm 1871, thống đốc Nam kỳ ra nghị định giải thể tòa tham biện Long Thành, sát nhập phần đất vào các toà tham biện lân cận, do đó các làng thuộc tổng Long Vĩnh Hạ được sát nhập vào hạt tham biện Sài Gòn.

Tượng Hai Bà Trưng

Năm 1920, tỉnh Gia Định được chia làm 4 quận: Thủ Đức, Hóc Môn, Gò VấpNhà Bè. Ngày 10 tháng 10 năm 1965, tổng Long Vĩnh Hạ lại được tách khỏi quận Dĩ An, nhập trở lại quận Thủ Đức. Năm 1967 xã An Khánh được cắt khỏi quận Thủ Đức, nhập vào thành phố Sài Gòn và được thành lập quận 9 với hai phường là An Khánh và Thủ Thiêm. Qua năm 1972 trên địa bàn Thủ Đức lại được lập thêm một xã mới là xã Phước Bình. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền cách mạng sắp xếp lại các đơn vị hành chính trong thành phố, quận Thủ Đức được gọi là huyện ngoại thành.

Ngày 6 tháng 1 năm 1997, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 03-CP[4] thành lập quận 9 trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số các xã Long Bình, Long Thạnh Mỹ, Long Phước, Long Trường, Phú Hữu, Phước Bình, Tăng Nhơn Phú, cộng thêm 484 ha diện tích tự nhiên và 15.794 người trích từ xã Phước Long, 891 ha diện tích tự nhiên và 13.493 người trích từ xã Hiệp Phú, 140 ha diện tích tự nhiên và dân số trên đây được chia làm 13 phường[3].

Kinh tế & Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Đã qua 12 năm đô thị hóa nhưng dân cư quận 9 còn tương đối thấp so với các quận mới thành lập như Quận Bình Tân, Quận Tân Phú. Quận 9 có khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh đang được xây dựng. Intel hiện là nhà đầu tư lớn nhất vào quận, đã đầu tư vào đây với số tiền đăng kí ban đầu là 600 triệu Đôla Mỹ.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Dân số và mật độ dân số năm 2010 phân chia theo quận, huyện, Theo Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh.
  2. ^ a ă â “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  3. ^ a ă â Quận 9 qua các giai đoạn lịch sử, Theo Cổng thông tin điện tử Sài Gòn.
  4. ^ Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 03-CP