Quỳnh Dao

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quỳnh Dao
Chiung Yao
Sinh 瓊瑤
Trần Cát
20 tháng 4, 1938 (76 tuổi)
Thành Đô, Tứ Xuyên
Bút danh Quỳnh Dao, Tâm Như, Phượng Hoàng
Công việc nhà văn, biên kịch, đạo diễn, nhà sản xuất
Quốc gia Đài Loan
Dân tộc Hán
Quốc tịch Đài Loan
Học vấn trường Trung Sơn Nữ Tử Cao
Thể loại tâm lý xã hội, tình cảm lãng mạn, bi kịch, hài kịch
Vợ/chồng Khánh Quân (1959-1964)
Bình Hâm Đào (1979-nay)

Quỳnh Dao tên thật là Trần Cát (chữ Hán phồn thể: 瓊瑤; chữ Hán giản thể: 琼瑶; bính âm: Chiung Yao hay Qiong Yao; là một nữ tác giả Đài Loan chuyên sáng tác tiểu thuyết lãng mạn dành cho đối tượng độc giả nữ. Quỳnh Dao bắt đầu sáng tác vào những năm cuối bậc trung học ở Đài Bắc. Tập truyện ngắn đầu tay của bà mang tên Ngoài khung cửa sổ ra đời trong khoảng thời gian bà tốt nghiệp trung học và dự thi vào đại học nhưng không thành công.

Các tác phẩm của bà được dịch ra và xuất bản rộng rãi ở Việt Nam từ cuối thập niên 1960. Ngoài ra, bà còn là một nhà sản xuất phim với những bộ phim truyền hình dựa theo chính nội dung các cuốn tiểu thuyết của bà.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Quỳnh Dao sinh ngày 20 tháng 4 năm 1938 tức năm Dân Quốc thứ 27 tại Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc và còn có một em trai song sinh và một em gái.

Em gái của Quỳnh Dao, Trần Cẩm Xuân là Tiến sĩ ngành vật lý hạt nhân của Đại học Wisconsin (Mỹ), từng cùng chồng là Trần Tráng Phi thành lập một công ty, khách hàng là Cục khí tượng của các nước trên khắp thế giới. Lúc nhỏ thành tích học tập của Quỳnh Dao không bằng em gái mình, điều này khiến bà rất tự ti, mãi đến khi tốt nghiệp trung học và trở thành nhà văn nổi tiếng, bà mới có lòng tin vào bản thân.[1] Cha bà là Trần Trí Bình, giáo sư Sử học tại trường Ðại học Quốc lập Sư phạm còn mẹ là môn đệ thư hương. Quỳnh Dao sinh ra trong cảnh chiến tranh, và những hình ảnh khói lửa đó đã lưu lại trong tâm hồn bà nhiều ấn tượng sâu đậm.

Cụ ngoại Quỳnh Dao là một thầy thuốc nổi tiếng cuối đời Thanh và rất ghét tư tưởng phong kiến hủ bại với quan niệm lạc hậu "con gái không tài mới là đức". Vì vậy, cụ chủ trương phải cho con gái được học hành đến nơi đến chốn. Lớn lên, mẹ và các dì Quỳnh Dao đều có tài nghệ riêng và sự nghiệp vững vàng. Dì cả Viên Hiểu Viên là nhà ngoại giao đầu tiên của Trung Quốc, dì tư Viên Tịnh sinh thời là một nhà văn nổi tiếng, mẹ bà cũng là nhà văn tài hoa. Có thể nói năng khiếu sáng tác của Quỳnh Dao được thừa hưởng từ mẹ.[2]

Năm 1945 khi Quỳnh Dao lên 7, cuộc kháng chiến của Trung Quốc bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, bà theo cha mẹ từ Hồ Nam đến Tứ Xuyên lánh nạn, nương tựa ở nhà một người dì. Thời điểm đó, hai vợ chồng người dì mở một trường trung học dân lập tên là Lô Nam và Quỳnh Dao đã theo học tại đó, còn mẹ bà thì làm giáo viên. Cũng trong thời gian này, mẹ bà phát hiện ra năng khiếu văn thơ của con gái và bà bắt đầu dạy Quỳnh Dao học thơ Đường. Đó là lần đầu tiên Quỳnh Dao tiếp xúc với văn học và cảm nhận được sức lôi cuốn của nó. Từ đó, bà bắt đầu đi sâu khám phá về lĩnh vực này.

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1949 Quỳnh Dao theo cha mẹ di cư tới Ðài Loan, đến năm 1988 mới có dịp trở lại Bắc Kinh gặp lại những người thân. Tại đây, Quỳnh Dao học tại trường tiểu học thuộc trường Sư Phạm Ðài Bắc và Trung học cao cấp nữ sinh số 1 Đài Bắc.

Thời trung học, bà là một học trò luôn làm cho các giáo viên phải đau đầu, cha mẹ phải lo phiền. Vì bà chỉ dành tâm trí vào môn Trung văn và có vẻ lơ là đối với các môn khác. Ngoài ra, bà còn có những ý nghĩ, những lý luận kỳ quái. Thường thường, bô hay phản đối giáo sư về đủ các chuyện và bất mãn về chế độ giáo dục thời đó. Vốn đa sầu, đa cảm, bà hay trầm tư và mê đắm trong ảo tưởng. Nhiều khi các giáo sư phải lắc đầu, bó tay trước những câu hỏi oái oăm, móc mấy của cô. Cả cha mẹ cũng lấy làm khó chịu về cái thái độ khác thường của bà. Có lúc bà còn đâm hoài nghi cả sinh mệnh, lẫn các giá trị sống, tình cảm và nhiều thứ khác nữa.

Sau khi tốt nghiệp bậc cao trung, Quỳnh Dao có dự hai kỳ thi chuyên khoa trường đại học nhưng lần nào cũng trượt. Ðây thực sự là một vết thương lòng của Quỳnh Dao. Chính vì sự thất bại đó nên đã khích lệ bà chuyên tâm vào việc sáng tác để tìm lại cái bản ngã tưởng chừng đã bị nền giáo dục lúc ấy kìm nén.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ nhỏ, Quỳnh Dao đã mơ ước trở thành nhà biên kịch, cứ mỗi lần xem xong một vở kịch, bà lại cầm bút viết. Kịch bản đầu tay của Quỳnh Dao chỉ có một cảnh và hai nhân vật, kể về những nhân vật chính là cha mẹ của bà, và lời thoại thì lấy từ những chi tiết nhỏ nhặt thường ngày trong gia đình.

Năm 16 tuổi, bà viết bộ tiểu thuyết đầu tay "Vân ảnh". Năm 24 tuổi, viết gần 100 tập truyện ngắn, hai bộ tiểu thuyết "Tầm mộng viện" và "Hạnh vân thảo". Năm 1963, tác phẩm Song ngoại được phát hành rộng rãi, đánh dấu bước khởi nghiệp của tôi. Đến nay bà đã sáng tác 56 bộ tiểu thuyết, trong đó 17 bộ dựng thành phim truyền hình và điện ảnh.

Năm 1966, bà chọn tác phẩm "Kỷ độ tịch dương hồng" chuyển thể lên màn ảnh rộng. Bộ phim này đã lăng xê thành công tên tuổi của diễn viên Chân Trân. Năm 1975, cơn sốt bộ phim "Bên dòng nước" giúp Quỳnh Dao nổi tiếng và khẳng định được vị trí trên thị trường phim ảnh Đài Loan. Những năm của thập kỷ 80, ngoài các tiểu thuyết, bà còn xuất bản những tập danh ngôn về tình yêu.[3]

Năm 1964, bà bắt đầu viết và xuất bản những cuốn tiểu thuyết tình cảm lãng mạn đầu tiên như Song ngoạiThố Ty Hoa. Năm 1968, bà thành lập công ty Hỏa Ô, sản xuất hai bộ phim đầu tiên là Nguyệt Mãn Tây LâuMạch Sanh Nhân (dựa theo tác phẩm Hạnh Vận Thảo). Năm 1976, bà thành lập công ty Cự Tinh.

Đến năm 1986, bà sản xuất loạt phim truyền hình dựa theo tiểu thuyết Kỷ Độ Tịch Dương Hồng. Năm 1988, bà trở về thăm quê hương Trung Quốc đại lục sau gần 40 năm. Việc này đã tạo cảm hứng cho bà sáng tác và xuất bản Tuyết Kha, cuốn tiểu thuyết cổ trang đầu tiên của bà.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1959, bà lập gia đình khi mới 21 tuổi và có một con trai. Cuộc hôn nhân của bà tan vỡ 5 năm sau đó. Năm 1979, bà kết hôn lần thứ hai với ông Bình Hâm Đào từng là tổng biên tập của tạp chí "Hoàng Quán".[4]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Song Ngoại (1963)
  2. Hạnh Vận Thảo (1964)
  3. Lục Cá Mộng (1964)
  4. Thố Ty Hoa (1964)
  5. Dòng sông ly biệt (Yên Vũ Mông Mông - 1964)
  6. Triều Thanh (1964)
  7. Kỷ Độ Tịch Dương Hồng (1964)
  8. Thuyền (1965)
  9. Nguyệt Mãn Tây Lâu (1966)
  10. Hàn Yên Thúy (1966)
  11. Tử Bối Xác (1966)
  12. Tiễn Tiễn Phong (1967)
  13. Thái Vân Phi (1968)
  14. Xóm vắng hay Vườn rộng sân sâu (Đình Viện Thâm Thâm - 1969)
  15. Tinh Hà (1969)
  16. Thủy Linh (1971)
  17. Hồ ly trắng (Bạch Hồ - 1971)
  18. Hải Âu Phi Xứ (1972)
  19. Băng Nhi (1985)
  20. Tuyết Kha (1990)
  21. Hoàng Châu cách cách (1999)
  22. KHÔNG PHẢI HOA CHẲNG PHẢI SƯƠNG(2013)

Chuyển thể[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]