Quỷ Tasmania

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quỷ Tasmania
Một con quỷ Tasmania
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammaia
Phân thứ lớp (infraclass) Marsupialia
Bộ (ordo) Dasyuromorphia
Họ (familia) Dasyuridae
Chi (genus) Sarcophilus
Loài (species) Sarcophilus harrisii
Danh pháp hai phần
Sarcophilus harrisii
(Boitard, 1841)
Distribution of the Tasmanian devil (grey)
Distribution of the Tasmanian devil (grey)

Quỷ Tasmania (danh pháp khoa học: Sarcophilus harrisii) là một loài thú có túi ăn thịt của họ Dasyuridae, chủ yếu được tìm thấy trong tự nhiên tại đảo Úc Tasmania. Quỷ Tasmania có kích thước của một con chó nhỏ. Hiện tại chúng đã trở thành loài thú có túi ăn thịt lớn nhất trên thế giới sau sự tuyệt chủng của loài hổ Tasmania vào năm 1936.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Quỷ Tasmania có cơ thể gọn gàng và chắc nịch với nhiều cơ bắp, lông đen, có mùi cay nồng, tiếng rít rất lớn và đáng sợ. Chúng là loài thú có khửu giác nhạy cảm và cũng loài săn mồi rất hung dữ. Chúng có cái đầu khá giống loài chuột, nhưng hàm răng sắc nhọn lại là của chó sói. Chân trước thường dài hơn so với chân sau. Bộ lông thường có màu đen với một mảng trắng bất thường trên ngực.

Con đực quỷ Tasmania thường lớn hơn con cái với chiều dài cơ thể khoảng 65 cm, đuôi dài chừng 25 cm và trọng lượng rung bình khoảng 8 kg. Quỷ Tasmania có một cái đầu lớn, khớp cổ linh hoạt cho phép chúng tạo ra những vết cắt chí mạng khi săn mồi.

Chúng ăn thịt bất kỳ loài động vật có vú nào mà chúng có thể săn đuổi và giết chết được, kể cả vật nuôi và gia súc. Loài này thường hoạt động đơn độc và thường xuất hiện vào ban ngày ở những thời điểm không quá nóng. Quỷ Tasmania nổi tiếng với sự hung dữ của mình cũng như là tốc độ và độ bền đáng ngạc nhiên khi đi săn. Chúng cũng có khả năng trèo cây và bơi lội rất tốt.

Những con cái có kích thước khoảng 57 cm chiều dài, đuôi chừng 24 cm và trọng lượng trung bình khoảng 6 kg. Quỷ Tasmania là loài đặc hữu của khu vực đào Tasmania thuộc Úc. Thức ăn của chúng chủ yếu là thịt những loài động vật có vú nhỏ, bò sát, côn trùng... Đôi khi cũng có thể tấn công những loài vật lớn hay gia súc.

Tin rằng nó là một loài thú có túi ô pôt, nhà tự nhiên học George Harris đã viết trong ấn phẩm xuất bản năm 1807 mô tả quỷ Tasmania là Didelphis ursina,[2] do đặc điểm như gấu với tai tròn[3]. Trước đó ông đã thực hiện một bài thuyết trình về chủ đề này tại Hiệp hội động vật London[4].

Tuy nhiên, danh pháp khoa học đó đã được trao cho loài đại thử thông thường (sau đó phân loại lại là Vombatus ursinus) bởi George Shaw vào năm 1800, và do đó không có[5]. Năm 1838, một mẫu vật được tên là Dasyurus laniarius bởi Richard Owen[6], nhưng đến 1877, ông đã đưa nó vào Sarcophilus. Danh pháp hiện nay của quỷ Tasmania đã được đặt tên là Sarcophilus harrisii "Kẻ yêu thịt Harris" bởi nhà tự nhiên học người Pháp Pierre Boitard năm 1841[7]. Một sửa đổi sau đó phân loại loài quỷ này, được xuất bản vào năm 1987, đã cố gắng để thay đổi các tên loài thành Sarcophilus laniarius dựa trên đại lục hồ sơ hóa thạch chỉ có một vài loài động vật[8].

Tuy nhiên, điều này đã không được chấp nhận bởi cộng đồng phân loại lớn;. tên S. harrisii đã được giữ lại và S. laniarius xuống hạng một loài hóa thạch "Beelzebub pup" là một tên tiếng mẹ bởi các nhà thám hiểm Tasmania, tham chiếu đến một vị thần tôn giáo một hoàng tử của địa ngục và một trợ lý của Satan; các nhà thám hiểm lần đầu tiên gặp phải những động vật bằng cách nghe tiếng kêu sâu rộng của nó vào ban đêm[9] tên được sử dụng trong thế kỷ 19 là Sarcophilus satanicus ("Kẻ yêu thịt Satanic") và Diabolus ursinus ("quỷ gấu"), tất cả đều do quan niệm sai lầm đầu đây là loài gấu.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hawkins, C. E., McCallum, H., Mooney, N., Jones, M.; Holdsworth, M. (2008). Sarcophilus harrisii. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày 9 July 2011. Listed as Endangered (EN A2be+3e v3.1)
  2. ^ Harris, George P. (1807). “Description of two new Species of Didelphis from Van Diemen's Land”. Transactions of The Linnean Society of London 9: 174–78. doi:10.1111/j.1096-3642.1818.tb00336.x. 
  3. ^ Owen and Pemberton, p. 79.
  4. ^ Owen and Pemberton, p. 8.
  5. ^ Groves, Colin (16 tháng 11 2005). Trong Wilson D. E. và Reeder D. M. (chủ biên). Mammal Species of the World . Nhà xuất bản Đại học Johns Hopkins. tr. {{{pages}}}. ISBN 0-801-88221-4. 
  6. ^ http://freeread.com.au/ebooks/e00036.html
  7. ^ http://palaeontology.palass-pubs.org/pdf/Vol%206/Pages%20615-624.pdf
  8. ^ Werdelin, L. (1987). “Some observations on Sarcophilus laniarius and the evolution of Sarcophilus”. Records of the Queen Victoria Museum, Launceston 90: 1–27. 
  9. ^ Owen and Pemberton, p. 7.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Guiler, Eric Rowland (1992). The Tasmanian devil. Hobart, Tasmania: St David's Park Publishing. ISBN 0724622578. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2010. 
  • Figueroa, Don; Furman, Simon; Yee, Ben; Khanna, Dan M.; Guidi, Guido; Isenberg, Jake; Matere, Marcelo; Roche, Roche; Ruffolo, Rob; Williams, Simon (2008). The Transformers Beast Wars Sourcebook. San Diego, California: IDW Publishing. ISBN 9781600101595. 
  • Owen, David; Pemberton, David (2005). Tasmanian Devil: A unique and threatened animal. Crows Nest, New South Wales: Allen & Unwin. ISBN 9781741143683. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010. 
  • Paddle, Robert (2000). The Last Tasmanian Tiger: The History and Extinction of the Thylacine. Oakleigh, Victoria: Cambridge University Press. ISBN 0-521-53154-3. 
  • Tyndale-Biscoe, Hugh (2005). Life of marsupials. Collingwood, Victoria: CSIRO Publishing. ISBN 0643062572. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Dasyuromorphia