Quỹ tín dụng nhân dân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tại Việt Nam, Quỹ Tín dụng nhân dân là tổ chức hoạt động theo mô hình hợp tác xã trong lĩnh vực cho vay vốn[1] ở địa bàn các (phường). Đây là kênh huy động vốn hiệu quả của Nhà nước đặc biệt là tại các vùng nông thôn nơi nguời dân chưa có thói quen giao dịch với ngân hàng[cần dẫn nguồn].

Hiệp hội quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam (VAPCF) được thành lập năn 2005.[2]

Mô hình hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Quỹ Tín dụng nhân dân được thành lập do sự góp vốn của các thành viên tại các xã (phường). Quỹ chung này được dùng để cho vay và chia lợi nhuận theo tỉ lệ góp vốn của các thành viên.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Những quy định chung về Quỹ Tín dụng nhân dân của chính phủ

Quỹ tín dụng - Quỹ tín dụng: là tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động - Mục tiêu: Tương trợ các thành viên, phát huy sức mạnh tập thể - Đặc điểm: + Thành viên tham gia quỹ tín dụng có quyền sở hữu và quản lý mọi tài sản và hoạt động của quỹ theo tỷ lệ vốn góp + Phạm vi hoạt động của quỹ tín dụng hẹp + Thế mạnh của quỹ tín dụng là bám sát khách hàng: cung cấp các dịch vụ của quỹ một cách nhanh chóng và có hiệu quả + Mỗi quỹ tín dụng là một đơn vị kinh tế độc lập nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau thông qua hoạt động điều hòa vốn, thông tin, cơ chế phân tán rủi ro nhằm đảm bào cho hệ thống quỹ phát triển bền vững -Các hoạt động cơ bản + Huy động vốn, nhận tiền gửi, vay vốn từ các tổ chức tc khác + Cho vay + Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ (phục vụ thành viên) + Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật