Quan điểm quản lí Manager – Agent

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Các quan điểm về quản lí đều cho rằng chức năng quan trọng nhất trong quản lí chính là sự truyền thông giữa thực thể quản lí và thực thể bị quản lí. Và điều này được thực hiện dựa trên mô hình yêu cầu-phản hồi. Khối quản lí sẽ yêu cầu đại diện quản lí (Agent) gửi các thông tin quản lí đặc trưng và thực thể bị quản lí thông qua agent, sẽ phản hồi lại bằng một bản tin chứa đầy đủ thông tin được yêu cầu. Nếu truyền thông yêu cầu-phản hồi được sử dụng liên tục để tìm kiếm mỗi agent và các đối tượng bị quản lí tương ứng thì cơ chế này được gọi là polling. Cơ chế này lần đầu tiên được ứng dụng để quản lí trong môi trường internet dựa trên giao thức quản lí mạng đơn giản SNMP (Simple Network Management Protocol).

Cơ chế yêu cầu - phản hồi được coi là một cơ chế truyền thông đồng bộ. Điều này có nghĩa là, manager sẽ chờ sự phản hồi từ agent trong một khung thời gian giới hạn nào đó trước khi nó tiến hành bất kỳ một sự kiện nào tiếp theo. Nếu quá thời gian cho phép mà không nhận được phản hồi, manager sẽ tiến hành phát lại yêu cầu.

Bên cạnh cơ chế yêu cầu - phản hồi còn có một cơ chế nữa cho sự truyền thông giữa manager và agent, đó là cơ chế thông báo. Cơ chế thông báo là một cơ chế không đồng bộ. Trong cơ chế này, agent sẽ gửi thông báo đến manager những thay đổi quan trọng về trạng thái của các tài nguyên bị quản lí và yêu cầu manager lưu ý đến hay can thiệp vào.

Mô hình quan hệ Manager-agent[sửa | sửa mã nguồn]

Một hệ thống quản lí mạng xây dựng trên mô hình Manager-Agent được xây dựng không chỉ dựa trên mô hình truyền thông mà còn liên quan tới hàng loạt các mô hình khác như: mô hình kiến trúc, mô hình tổ chức, mô hình chức năng và mô hình thông tin.

Mô hình kiến trúc sử dụng để thiết kế, cấu trúc các thành phần tham gia vào tiến trình quản lí. Trong mô hình kiến trúc, Manager đóng vai trò như là một cơ sở quản lí bao gồm một cơ cấu quản lí và một bộ các ứng dụng quản lí cung cấp các chức năng quản lí thực sự như quản lí cấu hình, quản lí lỗi và quản lí hiệu năng.

Mô hình vận hành định ra giao diện của người sử dụng với hệ thống quản lí trong đó chỉ rõ trạng thái cũng như kiểu định dạng của các tương tác tới người sử dụng như điều khiển các đối tượng được quản lí, hiển thị và tìm kiếm các sự kiện, các bản tin hay cảnh báo tới người điều hành.

Mô hình chức năng định ra cấu trúc của các chức năng quản lí giúp cho hệ thống quản lí thực hiện các ứng dụng quản lí. Mô hình chức năng có cấu trúc phân lớp đảm nhiệm các chức năng cơ bản như quản lí cấu hình, hiệu năng, lỗi và các tác vụ hỗ trợ quản lí mức cao. Ở các lớp bậc cao trong mô hình chức năng đều là các ứng dụng thực hiện các chức năng phức hợp như tương quan các sự kiện/cảnh báo, các hệ thống chuyên gia và quản lí tự động.

Mô hình tổ chức liên quan chặt chẽ đến các chính sách quản lí và thủ tục vận hành. Mô hình này sẽ xác định các miền quản lí, sự phân chia quyền điều hành cũng như quyền truy nhập của người sử dụng vào hệ thống quản lí chung cũng như hệ thống quản lí mạng khách hàng. Mô hình này thể hiện khả năng trao đổi vai trò giữa các manager và các agent cũng như sự hợp tác toàn cục giữa manager này với các manager khác hay với các ứng dụng quản lí.

Mô hình thông tin là mô hình cốt lõi của vấn đề quản lí. Mô hình thông tin đưa ra các tóm tắt về các nguồn tài nguyên được quản lí dưới dạng thông tin chung mà các manager và agent đều có thể hiểu được. Mô hình thông tin cũng xây dựng một cơ sở dữ liệu để định dạng, đặt tên và đăng nhập các nguồn tài nguyên được quản lí. Trong mô hình thông tin, thuật ngữ "đối tượng quản lí" được sử dụng nhằm trừu tượng hoá các nguồn tài nguyên vật lí và logic bị quản lí. Việc truy nhập đến các nguồn tài nguyên bị quản lí phải thông qua các đối tượng quản lí. Cơ sở dữ liệu chứa các thông tin quản lí được gọi là MIB. Khi tham khảo tới một MIB cá biệt nào đó có nghĩa là thủ tục tham khảo đến miền hay môi trường đặc tả chi tiết định dạng của các đối tượng quản lí. Định dạng của đối tượng quản lí đã được chuẩn hoá. Dựa trên cơ sở chuẩn hoá thông tin này, manger tiến hành thực hiện quản lí qua các giao thức chuyên biệt và truyền thông với các agent phân tán trên cùng một MIB.